Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Notes of... (3)

Bản lĩnh của lựa chọn.

Hôm nay nghe GS giảng, lại thấm thía nhiều điều.
Niềm tin theo ý tôi cũng chẳng khác chi không khí, nó có đó, hiện diện đó, mà ta thấy được đâu. Ai cũng cần không khí để thở và mấy ai dám dối lòng rằng không tin gì cả mà vẫn sống. Ít nhất, như Tào Tháo siêu đa nghi cũng phải tin vào chính tuyên ngôn của mình: "Thà ta phụ người còn hơn người phụ ta". Bác Nguyễn Huy Thiệp nói cũng chí lí lắm thay: "cả tin để sống".
Ờ, ít nhất cũng phải tin là: mình đang sống chớ.

Trở lại chuyện GS giảng. GS nói những người đầu tiên đi vào miền Nam Bộ là những kẻ bản lĩnh bậc nhất xứ ta. Có lẽ vậy. Điều đáng quý là bản lĩnh lựa chọn và hành động. Trong cuộc sống, lựa chọn luôn xảy ra, ngay cả khi không chọn gì cũng là một lựa chọn. Điều này rõ quá, không phải trò chơi chữ. Bản lĩnh chính là vượt qua thói đa nghi, lý tính cẩn trọng của bản thân hoặc hơn nữa là vượt qua sự lựa chọn cũng như vô thức của đám đông. Bản lĩnh lựa chọn đã hàm chứa khả năng vượt qua chính mình và tiềm ẩn năng lực vượt khỏi đám đông. Chính bản lĩnh lựa chọn đã khiến con người có ngày hôm nay: Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền/Trần Hưng Đạo, "trái đất quay quanh mặt trời" của Galilei Galileo... và biết bao lựa chọn đầy dũng khí khác.

Nếu hỏi người ta chọn gì
- Giàu hoặc nghèo: đa số chọn giàu
- Giỏi hoặc dở: đa số chọn giỏi
- Hạnh phúc hoặc đau khổ: đa số chọn hạnh phúc.
...

Đó là những lựa chọn không chỉ từ cảm tính hoặc lý tính mà còn từ vô thức cộng đồng sẵn có. Một mẫu thức mà trong đó con người hướng đến những gì có vẻ 'tốt/đẹp/ngon/hay/sướng...'. Tóm lại những lựa chọn đó là những lựa chọn hướng tới tích cực hoặc có dấu hiệu ổn hoặc hơn cả ổn.

Đợt nọ, tôi có đọc bài báo về thảm họa âm nhạc của V-Pop. Người ta chê bai nhiều. Cũng có người ý kiến rằng: có âm nhạc hàn lâm thì phải có âm nhạc rẻ tiền (nếu người ta cho rằng các sản phẩm âm nhạc dễ dãi của giới trẻ bây giờ là rẻ tiền), như thế mới là biện chứng(!) Kiểu như có ngày thì phải có đêm, có thiện thì phải có ác.

Xem ra thì người bình kiểu như vậy cũng có lý. Nhưng vô lý ở chỗ: nếu cho anh ta lựa chọn những thứ như trên thì anh ta rất có thể cũng lại chọn giỏi-giàu-hạnh phúc-thiện-sướng... mà thôi. Có thứ tốt hơn thì tội tình gì lại chọn món kém hơn. Hoặc quá lắm chọn lựa cả hai vì ... tham. (như ví dụ thấy 2 tờ bạc rơi thì bạn nhặt tờ nào: 500.000 và 10.000).

Lựa chọn luôn là điều khó khăn. Nhưng tinh thần bản lĩnh là người bạn đồng hành đáng giá nhất của bất kỳ lựa chọn nào. Và đối với tôi, tin là sinh quyển thiết yếu của lựa chọn.

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

Notes of... (2)

"Trăm năm trong cõi người ta...
...
Mua vui cũng được một vài
sát na"
Tượng Đại thi hào Nguyễn Du

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

William Faulkner

Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người
(Diễn từ nhận giải Nobel)
Nhà văn Mỹ - William Faulkner
Tôi cảm nhận rằng giải thưởng này không phải trao cho tôi với tư cách một con người mà là cho công trình của tôi - công trình cả một cuộc đời tạo tác trong nỗi thống khổ và nhọc nhằn của tinh thần con người, không phải vì danh và nhất là không phải vì lợi mà là để sáng tạo ra từ những chất liệu của tinh thần con người một cái gì trước đây chưa từng có. Vì vậy, giải thưởng này chỉ thuộc về tôi trong kỳ vọng. Tìm cách cống hiến khoản tiền trích từ giải thưởng cho tương xứng với mục đích và ý nghĩa khởi nguyên của nó không phải là việc khó khăn. Nhưng tôi cũng muốn làm như vậy với sự hoan nghênh nhiệt liệt bằng cách sử dụng giây phút này như một chóp đỉnh để từ đó, tôi có thể được những chàng trai và những cô gái trẻ lắng nghe, những kẻ đã sẵn sàng hiến mình cho nỗi khắc khoải và sự lao tác tương tự, trong số họ chắc chắn có một người vào một ngày nào đó sẽ đứng ở đây, nơi tôi đang đứng.

Bi kịch ngày hôm nay của chúng ta là nỗi sợ hãi chung và phổ quát mà chúng ta đã chống đỡ lâu đến mức ngay cả giờ đây chúng ta vẫn có thể chịu đựng nó. Không còn những vấn đề của tinh thần nữa. Chỉ còn một câu hỏi: Bao giờ ta sẽ nổ tung đây? Vì lẽ đó, người cầm bút trẻ tuổi hôm nay đã lãng quên những vấn đề của tâm hồn con người trong cuộc xung đột với chính nó, điều duy nhất có thể tạo ra tác phẩm hay, bởi đấy chính là điều duy nhất đáng để viết, đáng để thống khổ và nhọc nhằn.

Chân dung nhà văn William Faulkner -
tranh chì của Darrell Berry
Hắn phải học những vấn đề này lần nữa. Hắn phải tự giáo huấn rằng, điều hèn kém nhất trong tất cả mọi điều là sợ hãi, và tự giáo huấn rằng, hãy quên điều đó đi vĩnh viễn, đừng dành khoảng trống này trong văn phẩm của hắn cho bất cứ cái gì khác ngoài những chân lý cổ sơ, những sự thật của trái tim, những sự thật phổ quát xưa cũ mà nếu thiếu vắng chúng, câu chuyện nào cũng sẽ phù du và đáng bị kết án - đó là tình yêu, danh dự, xót thương, kiêu hãnh, trắc ẩn và hy sinh. Hắn sẽ phải lao tác dưới một lời nguyền rủa cho đến khi nào hắn làm được như thế. Hắn sẽ không viết về tình yêu mà chỉ viết về dục vọng, về những thất bại mà trong đó chẳng kẻ nào mất mát điều gì có giá trị, về những chiến thắng không có hy vọng và tệ hại hơn hết không có cả tình thương và lòng trắc ẩn. Những nỗi phiền muộn của hắn không khắc sâu trên những lóng xương nhân loại, cũng không để lại một vết sẹo nào. Hắn không viết về trái tim mà chỉ viết về các tuyến nội tiết.

Khi nào chưa học lại được những điều đó, hắn còn viết như thể hắn đang đứng giữa những con người mà nhìn ngắm sự lụi tàn của họ. Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người. Quả là dễ dàng khi nói rằng con người bất tử chỉ vì nó sẽ nhẫn nại; rằng khi tiếng chuông cuối cùng của ngày tận thế vang rền và tắt lịm từ mỏm đá cuối cùng tầm thường cheo leo khô cằn trong buổi hoàng hôn cuối cùng đỏ rực và chết chóc; rằng ngay cả khi ấy nữa vẫn còn một âm thanh: đó là tiếng nói yếu ớt không mệt mỏi của con người đang tiếp tục trò chuyện. Tôi khước từ chấp nhận điều này. Tôi tin tưởng rằng, con người sẽ chiến thắng. Nó bất tử không phải vì giữa muôn loài nó có một tiếng nói không mệt mỏi, mà là vì nó có một linh hồn, một tinh thần có khả năng trắc ẩn, hy sinh và nhẫn nại. Bổn phận của nhà thơ và nhà văn là viết về những điều ấy. Đó là đặc quyền của hắn để giúp con người chịu đựng bằng cách nâng cao tâm hồn mình, bằng cách nhắc nhở con người về can đảm, danh dự, hy sinh, những gì đã từng là vinh quan trong quá khứ của họ. Tiếng nói của nhà thơ cần phải không chỉ là di tích của con người, mà còn có thể là những điểm tựa, những cột trụ giúp con người chịu đựng và chiế thắng.


Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Rabindranath Tagore

Tôn giáo của nhà thơ
"Chân lý là cái đơn nhất và thống nhất chứ không phải là một mảnh vụn được tách rời khỏi sự hỗn độn" - Rabindranath Tagore
Nhà thơ Rabindranath Tagore
Nhà thơ gợi ý rằng chân lý tự thể hiện trong cái đẹp… Cái đẹp không phải là một sự bịa đặt tùy tiện, nó có cái ý nghĩa muôn thuở của hiện thực.

Nhưng sự kiện tạo ra sự suy sụp và nỗi buồn chỉ là một lướp sương mù, và khi cái đẹp chọc thủng được ở một vài chỗ nào đó của màn sương ấy, chúng ta hiểu rằng cái có thật là tình yêu chứ không phải là hận thù và chân lý là cái đơn nhất và thống nhất chứ không phải là một mảnh vụn được tách rời khỏi sự hỗn độn. Chúng ta cảm thụ rằng sáng tạo là sự hài hòa vĩnh hằng lý tưởng vô cùng của sự hoàn thiện và tính liên tục vô tận của quá trình thực hiện nó, rằng bao giờ chưa có sự cách ly tuyệt đối giữa lý tưởng với sức cảm ngại đối đầu lại sự thành đạt nó, thì chúng ta không biết sợ đau khổ và sự chết chóc.

Đó là tôn giáo của nhà thơ.

Trong một tôn giáo với những tín điều võ đoán, tất cả các vấn đề được giải quyết một cách dứt khoát, tất cả những nỗi hoài nghi đều được trấn an, còn tôn giáo của nhà thơ là chất lỏng giống như bầu khí quyển bao bọc quả địa cầu trong đó ánh sáng và bóng tối chơi trò cút bắt, trong đó giống như chàng chăn cừu trẻ tuổi thổi sáo giữa những đàn cừu có tên là những áng mây. Tôn giáo của nhà thơ không dẫn dắt chúng ta đến một kết luận sau cùng, chung quyết nào: tuy nhiên, nó phát hiện giùm chúng ta những vùng ánh sáng vô tận vì nó không bị những bức tường bao bọc, tạo ra biên giới. Nó nhìn hậu quả của điều ác, nó chấp nhận sự mệt mỏi, những cơn sốt, những sự chao đảo dao động của cõi nhân gian trong đó mỗi người đều hoang phí cả cuộc đời mình để lắng nghe tiếng rên siết kêu than của người khác, nó nhắc nhở chúng ta rằng bất chấp tất cả mọi thứ, con chim họa mi vẫn cứ hót.



Claude Simon

Diễn từ nhận giải Nobel (trích)

Nhà văn Pháp Claude Simon
Thưa quý bà, quý ông
Cảm xúc của một người được Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh thể hiện trọn vẹn trong bức thư mà một bạn đồng viện Nobelo, Tiến sĩ André Lwoff, có nhã ý gửi cho tôi:

“Nghiên cứu là một trò chơi hoặc một ván bạc”. “Thắng hay thua chẳng có gì quan trọng, ít ra trên lí thuyết là như vậy. Tuy nhiên các nhà khoa học (và tôi xin nói thêm, các nhà văn) đều giống trẻ nít về một mặt nào đó. Giống lũ trẻ, họ thích thắng và cũng giống lũ trẻ, họ thích giải thưởng”. Bởi vậy, ông André viết thêm: “Tự trong đáy lòng, nhà khoa học nào (tôi lại xin nói thêm, nhà văn nào) cũng khao khát được công nhận”.

Phải thú nhận rằng tôi không quá kiêu căng hay thậm chí ngu ngốc đến mức không biết rằng bất cứ lựa chọn nào trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng đều gây tranh cãi, và trong chừng mực nào đó, võ đoán; và tôi là người đầu tiên coi nhiều nhà văn khác tôi rất kính trọng ở Pháp và các nước khác, là những người hoàn toàn xứng đáng nhận giải thưởng này như mình.

Hãy đặt sang một bên những lời phàn nàn rằng tôi là một nhà văn “khó hiểu”, “buồn chán”, “không thể đọc nổi” hay “bát nháo”, hãy nhớ lại rằng những chê trách tương tự luôn được gán cho bất cứ nghệ sĩ nào dám lật đổ dù chỉ chút ít những thói quen cố định và trật tự sẵn có, thay vào đó, chúng ta hãy tự chất vấn về cung cách mà con cháu của những người đó đã có thời chẳng thấy gì trong các bức tranh ấn tượng chủ nghĩa ngoài những hình thù méo mó (nghĩa là không thể luận được) và ngày nay thì xếp hàng dài bên ngoài các cuộc triển lãm và bảo tàng để chiêm ngưỡng cũng chính những họa sĩ bôi bác đó.

Cũng như vậy, chúng ta hãy gạt sang một bên những ám chỉ rằng các vị đã bầu chọn cho tôi theo ý đồ của các điệp viên thuộc một cơ quan cảnh sát chính trị nào đó, trà trộn giữ các vị đang ngồi đây, tuy nhiên cũng nên lưu ý một điều lạ lùng là thậm chí ngày nay đối với một nhóm người nhất định, Liên bang Xô viết vẫn còn là biểu tượng cho một thế lực thù địch đáng sợ uy hiếp trật tự xã hội, thế lực mà tôi một nhà văn bình thường, có vinh hạnh được liên kết.

“Có phải họ trao giải Nobel cho Claude Simon để khẳng định tin đồn rằng cuối cùng tiểu thuyết đã chết?” một nhà phê bình hỏi. Cái mà ông ta dường như không để ý là nếu với chữ “tiểu thuyết” ông ta muốn nói đến hình mẫu văn học được thiết lập ở thế kỷ 19, thì quả thực nó đã chết rồi, bất kể đã có bao nhiêu sách in ra về những cuộc phiêu lưu dễ thương hay rùng rợn, với kết thúc có hậu hay tuyệt vọng, mà các nhà ga và hiệu sách vẫn đang bán và mua và sẽ còn bán rất lâu nữa, dưới những tựa đề loan báo chân lí mới được tiết lộ như Phận người, Hy vọng hay Những con đường tự do.

Bây giờ tôi đã là một ông già. Giống như cuộc đời của vô số người sống ở châu Âu già cỗi này, phần đời ban đầu của tôi bị xáo trộn không ít. Tôi đã chứng kiến một cuộc cách mạng. Tôi đã ra trận trong những tình huống đặc biệt chết chóc (trung đoàn của tôi là một trong những đơn vị bị bộ tổng tham mưu lạnh lùng hi sinh từ trước, đến nỗi mà một tuần sau hầu như chẳng còn ai sống sót). Tôi bị bắt làm tù binh. Tôi biết thế nào là đói khát. Đã từng bị dồn đến mức kiệt lực vì lao động chân tay. Đã trốn. Đã từng ốm nặng, nhiều lần tưởng chết tự nhiên hoặc suýt bị giết, tôi đã gánh chung vai với mọi loại người; trong mọi hoàn cảnh, từ tu sĩ đến kẻ đốt đền, từ nhà tư sản hòa bình đến phần tử vô chính phủ, triết gia và người mù chữ. Tôi đã chia sẻ miếng bánh với những kẻ cơ nhỡ, nói tóm lại, tôi đã ở giữa nhân quần… với tất cả tuy nhiên vẫn chẳng tìm thấy ý nghĩa nào trong mọi chuyện đó, có thể trừ một ý nghĩa gắn liền với cuộc đời mà Barthe, phỏng theo Shakespeare, đã nói rằng “nếu thế giới có một ý nghĩa, thì đó là nó chẳng có ý nghĩa gì cả” trừ việc nó tồn tại.

Thỉnh thoảng người ta hay nói, duy có điều là quá trôi chảy và ngoài chỗ cần nói, về chức năng và nhiệm vụ của nhà văn. Vài năm trước đây, một số người không phải không mị dân đã sau đây một thành ngữ tự nó đã mâu thuẫn, thậm chí đi đến chỗ tuyên bố rằng “một cuốn sách chẳng đáng gì so với cái chết của một em bé ở Biafra”. Nhưng tại sao một cái chết như thế khác, với cái chết của một con khỉ con, lại không thể chịu đựng nổi? Hiển nhiên bởi vì đứa trẻ là một con người, tức là được phú cho một trí tuệ, một ý thức (tuy ở dạng phôi thai) và nếu sống sót, một ngày kia nó sẽ có khả năng tư duy và nói lên nỗi khổ của mình, sẽ đọc được những điều viết về nỗi khổ của người khác, và đến lượt mình sẽ biết xúc động và nếu may, sẽ viết về điều đó.

Trước khi thế kỷ ánh sáng kết thúc, trước khi huyền thoại về chủ nghĩa hiện thực hình thành, Novalis đã nêu lên với một sự sáng suốt đáng kinh ngạc nghịch lí này: “Ngôn ngữ cũng giống như các công thức toán học, cả hai đều chứa đựng những thế giới riêng những thế giới tự thân. Hoạt động của chúng là độc nhất và nội tại, chúng không thể hiểu gì ngoài bản chất kì diệu của mình, và chính điều đó làm cho ngôn ngữ và toán học giàu sức biểu hiện đến thế, khiến bên trong hai thế giới đó, tác động lẫn nhau của sự vật được phản ánh một cách hết sức đặc biệt”.

Chính trong lúc tìm kiếm tác động qua lại này mà có lẽ người ta có thể hình dung hành động viết văn, hành động tuy khiêm tốn nhưng góp phần làm thay đổi thế giới mỗi khi nó làm thay đổi cách thức sau đây ngôn ngữ của con người, dù ở mức độ nhỏ nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, con đường đó sẽ khác hẳn với mọi người viết tiểu thuyết khởi đầu bằng “phần đầu” và kết thúc bằng “đoạn kết”. Con đường kia, dễ khiến một nhà thám hiểm ở một xứ sở xa lạ mất nhiều công sức mới tìm ra (anh ta phải quên mình đi, trở đi trờ lại những lối mòn, lạc đường bởi sự giống nhau của các địa điểm, những khía cạnh khác nhau của cùng một địa điểm) sẽ thường xuyên qua những giao điểm đã đi nhiều lần, ở cuối cuộc điều tra xâm nhập những hình ảnh và cảm xúc “tức thời” chẳng cái nào gần hơn hay xa hơn cái kia (ngôn từ có một sức mạnh kì diệu là làm xích lại gần và chồng lên nhau những đối tượng lẽ ra vẫn nằm rải rác trong thời gian đo đếm được),  cuộc hành trình đó rất có thể kết thúc với việc anh ta trở lại điểm xuất phát, chỉ có điều là giàu có hơn nhờ biết được vài phương hướng, bắc vài cây cầu, và nếu có vài nét đặc thù xuyên thấu một cách bướng bỉnh, và đừng phô phang yêu sách đòi nói những chuyện tầm phào, anh ta thậm chí có thể đạt tới cái lẽ thường để mọi người dù ít hay nhiều có thể nhận ra anh ta trong đó.