Hiển thị các bài đăng có nhãn Hemingway. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hemingway. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

John Updike


Cây bút về đời sống Mỹ hiện đại

Người hầu bàn hỏi John Updike cần thứ thức uống nào? Với bao nhiêu nhà văn lớn của nước Mỹ trước đây và bây giờ, câu trả lời – vào lúc 4 giờ chiều – thường giống như đặt bữa tiệc Giáng sinh của hãng IBM cho quầy rượu. Nhưng John Updike chọn dùng trà. Cùng lúc đó, từ một chiếc bàn bên cạnh, người ta hỏi nhau: “Có phải John Updike đấy không nhỉ?” Sự trùng hợp này làm người ta nghĩ đến sự nổi tiếng và sự tàn tạ, những hình phạt của thành tựu văn học ở Mỹ. Các nhà phê bình, đặc biệt là người Anh, hay viết về những áp lực đặc biệt đối với các tác giả Mỹ: một sản phẩm của cường độ chung về văn hóa và sự khát khao của một đất nước về một nền văn hóa có bản sắc. Người ta có thể thống kê về nạn nghiện rượu, tự tử, suy sụp thần kinh, những bài diễn thuyết điên cuồng, về những vụ tranh cử…
Tại bữa trà này, một nhà phê bình văn học, Mark Lawson hỏi Updike: “Xem ra anh còn tỉnh để có thể tránh đi được cái bẫy đó”.
“Phải rồi”, Updike đáp, chặc lưỡi, “Tôi vẫn còn sống nhăn răng”.
“Và mắn đẻ nữa chứ”. Lawson tiếp. Đấy là cách nói nhún. Knoff, nhà xuất bản của Updike, vừa rồi đã phải thu nhỏ lại khổ chữ của trang giới thiệu tác phẩm cùng một tác giả trên sách của ông để có thêm chỗ cho tác phẩm mới. Đến nay không kể truyện viết cho thiếu nhi, tất cả là 36 cuốn gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, khảo luận và hồi ký. Cuốn thứ 37, Hồi ức về chính quyền Ford (một cái tên sách tư liệu ngụy trang cho cuốn tiểu thuyết thứ 15 của ông) xuất bản vào cuối tháng 3-1993.
Updike bình phẩm: “Quả thỏa đáng khi nói là tôi đã ý thức được về tình trạng ốm yếu của bao nhiêu nhà văn trước tôi. Về mặt lịch sử mà xét, rất hiếm những nhà văn không bị rệu rã từ tuổi 35. Do một số lý do. Trước hết, Mỹ là một xứ sở tôn vinh cái trẻ trung. Người ta có thể thấy rất rõ trong trường hợp Hemingway. Viết trước hết từ sức sống trẻ trung, về một thế giới ngây thơ vẫn mang những hạt sương mai. Nhưng đến lúc sương tan, thì cả tác giả lẫn độc giả đều có thể trở nên chua chát”.
Vẻ măt của Updike bao giờ cũng ánh lên sự nhanh nhạy, hóm hỉnh. Bởi thế, vào tuổi 60, nhà văn Mỹ này có cặp mắt vẫn còn ướt át. Độc giả của ông cũng thế: như thể để chứng minh rằng ngòi bút của ông không chịu tuân theo cái biểu đồ mà ông vừa nói – Updike đã nhận hai giải Pulitzer vào tuổi 50 và 59.
Hầu bàn mang trà tới. Như chơi vĩ cầm với dụng cụ dùng trà, ông tiếp tục: “Thế hệ ấy, hầu hết đối với nam giới họ uống quá nhiều. Đặc biệt là Faulkner, gây ấn tượng mạnh là Hemingway, còn Fitzgerald thì vô hồi kỳ trận..”. Khi nói, cũng giống như khi viết, một dấu ấn mang phong cách Updike là việc chọn và đặt vị trí của trạng từ và tính từ: một sự hòa trộn và chọn lọc sinh động và đầy nhịp điệu. “Bản thân tôi, tôi cho thật là vui khi tìm thấy cách kéo dài năng lực mình như Henry James đã làm. Từ 35 năm trước, tôi đã bắt đầu nghề nghiệp của mình giống như một nha sĩ hành nghề, có mặt nơi làm việc hàng ngày và đúng giờ giấc”.
Trong vòng 15 năm qua, ngày nào ông cũng viết ít nhất là 1.000 từ. Còn việc chọn thức uống cũng là có lý do của nó: sức khỏe của ông cần kiêng rượu vì bệnh suyễn và kiêng cà phê vì huyết áp cao. Như một hoán dụ, sở dĩ Updike cần phải uống trà vì như ông nói: “Hemingway đối với tôi là một nhà văn xuất sắc của Mỹ trong thế kỷ XX. Văn phong của ông là cái mà chúng ta mơ ước. Nhưng sai lầm của ông mà ta có thể rút ra là: sự cạn kiệt quá sớm, sự lạm dụng sức khỏe của mình, sự liều lĩnh trong cuộc sống cá nhân, và sự lo sợ viết về cái mà ta có thể gọi là đời thường. Ông đã tìm mọi cách để tránh những đề tài về cuộc sống hàng ngày của người dân Mỹ. Còn tôi thì lại bằng mọi cách lặn ngụp trong đó…”
Trên biểu đồ sự nghiệp của sự nghiệp John Updike, trước tiên người ta coi ông là một nhà thơ viết văn xuôi, tiếp đó là một nhà văn đi sâu vào tình dục, và gần đây nhất là một người ghi chép lịch sử hiện đại Mỹ.
Sinh năm 1932 tại Pennsylvania từ một gia đình gốc Hà Lan, cha ông là một giáo học, còn mẹ là một nhà văn hạng hai. John Updike là con một, còn Pennsylvania là một bang lúc đó mang tính chất thôn dã lỗi thời.
Hết phổ thông, Updike trở thành họa sĩ biếm họa, sau đó làm cho tờ New Yorker và viết hàng loạt truyện ngắn và tiếp đó cho ra đời tác phẩm Thỏ, chạy đi (Rabbit, run) (1960).
Tác phẩm này kể lại giai đoạn gieo neo về đời sống hôn nhân năm 1959 của Harry “Rabbit” Angstrom, một dân gốc Hà Lan lì xì ở Pennsylvania, là một người mà thời hoàng kim là ngôi sao bóng rổ tại một trường cao đẳng thời trẻ. Sau đó cứ 10 năm Updike lại trở lại với Rabbit: Rabbit trở lại (1971), Rabbit giàu có (1981) và Rabbit yên nghỉ (1990). Những truyện này chen nhau những cảnh ngộ của cuộc sống gia đình: lúc đi tắm, vợ Harry dìm chết đứa con gái trong những tình huống khả nghi, khả năng về một cô bồ đã đẻ cho ông ta một đứa con bất hợp pháp. Sự kiện và tâm trạng của người Mỹ trong 4 thập kỷ - các vị tổng thống, chiến tranh, những quan hệ tình dục, các thời thượng văn hóa. Tất cả cuốn lại với nhau như những dòng thời sự do một nhà thơ viết ra.
Vào giữa hai tập đầu, Updike đã tạo ra một sự nổi danh khác: một nhà văn lang thang về tình dục. Những cặp vợ chồng (1969) nói về quan hệ bộ tam, bộ tứ dưới thời Kennedy – và vì thế người ta mệnh danh ông là nhà văn “porno” về hôn nhân, dưới cách viết bóng bẩy. Chính vì thế, lời kết tội thực sự đối với Updike là giọng văn “chải chuốt đáng ngờ”. Trước tiên là do những câu văn đầy cá tính của ông ánh lên bằng những tính từ và những hình ảnh khiến chúng trở nên kiêu sa về hình thức hơn là hàm chứa về nội dung. Người ta cũng còn cho văn ông là quá trau chuốt.
John Updike, thường được ví như nhà văn De Sade về hôn nhân và nhà văn Carlyle về tình trạng suy thoái của Mỹ. Ông có một cảm quan đặc biệt thính nhạy. Mà quả tình, chứng khịt mũi của ông do bệnh suyễn hay cố tình làm cho chiếc mũi đẹp của ông cứ run rẩy khiến người ta cứ liên tưởng tới một cần ăng ten hay một chú thỏ. Với những chi tiết sinh động trong tác phẩm của ông, người ta có cái ấn tượng là đầu óc ông thường xuyên tiếp nhận các dữ kiện. Cái cảm giác về một nhà văn không bao giờ rời bỏ công việc của mình còn được nhấn mạnh bỏ cách trò chuyện của ông, cách ăn nói và miêu tả của ông.
Những hồi ức về chính quyền Ford là một tác phẩm thuộc giai đoạn sau và phóng túng của một tác giả lớn, cố tình kết hợp một chủ đề cũ với một nỗi ám ảnh cá nhân mơ hồ. Chủ đề thứ nhất là ngoại hình và những méo mó của một gia đình, chủ đề thứ hai là chính quyền của James Buchanan, một đảng viên lập lờ của đảng Dân chủ, là Tổng thống cuối cùng trước cuộc nội chiến Mỹ. Là một người sinh trưởng ở Pennsylvania, Updike đã luôn bị thu hút bởi vị tổng thống duy nhất xuất xứ từ bang này. Năm 1974, ông đã viết một vở kịch có tên là Buchanan đang chết.
Trong cuốn tiểu thuyết mới, nhân vật Alf Clayton, một học giả ở New Hampshire đang biên soạn (vào năm 1990) một tài liệu về những năm của chính quyền Ford – một con người làm phó tổng thống rồi tổng thống mà không hề được bầu vào các chức vụ đó. Tổng thống Ford thường được đi kèm với từ “pardon” (xin lỗi) mang tính chất một câu hỏi bởi vì ông ta chẳng hiểu gì mấy về vấn đề người ta đặt ra với ông. Updike nhận xét: “Tôi ngạc nhiên về việc mặc dầu chúng ta có tất cả 42 tổng thống, thì rất có thể ông ta là người đã bị bỏ quên. Khi tôi nói với người ta về cái tít của cuốn tiểu thuyết, họ thường mỉm cười, tưởng là tôi nhắc đến một câu nói đùa cũ…”
Khi biên soạn tài liệu này, Clayton lại thường bị ám ảnh bởi nội dung tư liệu về tiểu sử của Buchanna – cả hai đều là hai tổng thống bị quên lãng từng cai trị đất nước Mỹ vào những thời kỳ khủng hoảng. Những ký ức sâu đậm cảu Clayton thời chính quyền Ford còn là chuyện của ông ta, năm 1974, muốn từ bỏ vợ con để sống với một cô bồ. Điệu nghịch lý là mặc dầu Ford là một kẻ vụng về bị hất ra khỏi chiếc giường, nhưng thời cầm quyền của ông lại trùng hợp với thời đại đỉnh cao của người Mỹ đua nhau chui vào giường ngủ. Đây là trào lưu của thập kỷ 70, thời đại tiền-SIDA, và các vấn đề hạn chế sinh đẻ và bệnh hoa liễu – ít nhất là trong các tầng lớp trẻ - chưa nảy sinh. Theo Updike, những năm giữa thập kỷ này hé ra một cánh cửa sổ cho một cơ hội tình dục giữa việc tìm ra thuốc tránh thai và sự phát sinh bệnh SIDA.
Người ta có thể tự hỏi: Nếu trong một cuốn truyện về thời này, liệu Updike có cảm thấy buộc phải giới hạn trong sinh hoạt tình dục an toàn không? Updike liền vặn lại: Có người nào trong gia đình Rabbit dùng bao tránh thai không nhỉ? Mà thực, việc đó đã được nói đến trong tập truyện cuối cùng của bộ tứ tiểu thuyết về Rabbit. Và Updike kiêu hãnh nói: “Đấy anh thấy không, cái tình dục an toàn hiện đại có trong truyện của tôi rồi đấy!”.
Về bộ tiểu thuyết saga Rabbit, độc giả của ông có phần miễn cưỡng chấp nhận cái chết của nhân vật. Họ hy vọng rằng ông sẽ cho ra tiếp tập năm vào bước ngoặt của thế kỷ sắp kết thúc vì giống như nhân vật huyền thoại Elvis, đã không thực sự chết, và có thể cung cấp cho những hồi ức về chính quyền Clinton hiện nay. Tác giả có vẻ suy nghĩ và nói hình như quả là ông đã viết bộ sách này khá hơn những tác phẩm khác và cũng có thể do cách để viết cuốn thứ năm: một tác phẩm về đám tang của gia đình Angstrom, hay vấn đề người con gái có phải là con của Harry hay không đã bỏ ngỏ. Lập luận của ông là ông sẽ 67 tuổi vào kỳ hạn xuất bản tới của một cuốn sách về Rabbit và có rất ít tiền lệ lịch sử trong văn học Mỹ khi một tác phẩm hàng đầu lại được in ra vào cái tuổi của ông. Nhưng các tác phẩm thứ 38, 39 và 40 của Updike đang chuẩn bị in – một tuyển tập thơ, một loạt truyện ngắn và một tiểu thuyết lấy bối cảnh Braxin. Ông đã thách thức cái mẫu của đời sống sáng tác trong văn học Mỹ thành công đến mức mà chừng nào ông còn gắn với tách trà thì chừng đó khả năng sinh đẻ giống như loài thỏ của ông vẫn có thể đảm bảo cho việc tái tạo ra một thiên tiểu thuyết nữa về Rabbit.
Có những nhà văn như thế - Hà Vinh-Vương Trí Nhàn – Nhà xuất bản Hội nhà văn

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Ernest Hemingway (3)

Trăm năm cô đơn với ngòi bút
Quay về từ lò lửa chiến tranh, Hemingway đã trả giá đắt cho sự tồn tại nếu không phải là ý thức được nó ít ra một cách sáng suốt. Cái cách phòng ngự tốt nhất để chống lại sự hư vô và mọi "ảo tưởng trữ tình" về cuộc sống mà ông tìm thấy là trong công việc cô đơn của nhà văn.


Ở Key West, từ năm 1928, Hemingway đã ly khai với xã hội Mỹ. Ông chạy trốn một đất nước bị chao đảo bởi sự cấm đoán chống cộng và nạn nhân của suy thoái. Ngược lại với William Faulkner, cắm rễ vào vùng sâu của miền Nam, ông đã khước từ việc đồng nhất mình với đất nước sinh ra mình. Thực tế cho đến khi chết ông sống tại Finca Vigia, rất gần La Havane (Cuba) đằng sau dãy tường cao màu trắng, trong một ngôi nhà không có quạt máy mà cũng chả có máy điều hòa nhiệt độ. Chính ở đây ông đã viết ra phần lớn những tác phẩm của mình. Tờ Paris Review kể lại: "Từ sáng sớm, ông thức dậy, đứng trước bàn viết, tập trung tư tưởng đến cao độ. Ông chỉ đổi chân khi mỏi vì trọng lượng cơ thể dồn quá lâu lên một chân, mồ hôi tháo ra khi cảm hứng về nghệ thuật nhất thời bị mất đi và cam lòng làm nô lệ cho thứ kỷ luật tự áp đặt cho mình và tuân thủ cho đến giữa trưa".
Z


Cần nhắc lại rằng Hemingway là một nhà văn. Trong 7 tháng (kể từ tháng 4/1917) mà ông sống tại tòa soạn tờ Star ở Kansas City là những ngày tháng tạo dựng nên ngòi bút của ông: ông hình thành và xác lập ra văn phong, nghệ thuật viết văn và toàn bộ cuộc sống của mình. Việc trải qua nghề báo đã thuyết phục ông rằng ngôn ngữ trần thuật có lẽ rất gàn gũi với ông, cái kiểu nói lóng. Văn chương của ông, rất chặt chẽ, là sự gặp gỡ của hai khuynh hướng lớn của văn học Mỹ: Chủ nghĩa tự nhiên và chủ nghĩa tượng trưng. Quả vậy, ông gạt bỏ sự che đậy, cái mà qua nghề báo ông cảm thấy là cần thiết. Khi 35 tuổi, ông đăng trên tờ Esquire một bài báo nêu lên cho chúng ta một bài học viết văn thật tuyệt vời: "Cái khó nhất ở đời là viết ra một câu văn hoàn toàn chân thật về những con người. Trước hết phải nắm được chủ đề, rồi biết cách viết ra." Hemingway còn nói: "Công việc này đòi hỏi sự dâng hiến hoàn toàn giống như nghề một giáo sĩ". Đối với ông, viết văn là một công việc cụ thể, thuộc về thể chất. Ông viết chậm và khó khăn. Ngày qua ngày, tháng hết tháng, ông dậy từ rạng sáng, đọc lại những trang viết ra ngày hôm trước, chữa lại chỗ này, chỗ kia rồi viết tiếp, bắt đầu từ câu cuối, chữ cuối và cỗ máy được khởi động lại. Với ông, viết lách bao giờ cũng nguy hiểm và không hề hoàn tất. Ông đã viết lại 32 lần những trang cuối của cuốn Giã từ vũ khí và đã sửa chữa khoảng 30 lần trên bản in thử! Những bản thảo của ông chỉ ra sự quan tâm kỹ càng của ông đối với những gì ông sửa chữa, gạch xóa, kiểm duyệt hay cắt bỏ. Ông nói: "Tôi muốn tước bỏ ngôn từ để bóc trần nó ra cho đến tận xương". Đối với Hemingway viết lách chính là phân biệt với cái chết. Viết là cách để phá vỡ sự cô đơn. Ông viết giống như không phải vì ông có thể viết và muốn viết mà vì cần phải viết. Ông lắng nghe con quái vật trong người mình. Ông mời mọc chúng ta chia sẻ những trực giác của mình, những cảm quan của mình về cuộc đời. Ông để cho những trang viết tự nhân lên, chiếm lĩnh lấy ông. Ông biến việc viết lách thành công việc lao dịch chính và là niềm vui sảng khoái nhất.


Người ta đã biết rằng đối với Hemingway, viết lách là công việc nghiêm chỉnh. Người ta chỉ được viết về những gì mình hiểu và bao giờ cũng phải chân thực. Những trích dẫn của Hemingway về "sự chân thực ban đầu" thì có đến hàng trang, những sự chân thực chưa phải là sự thực. Nhà văn là chân thực khi họ nói lên từ thâm tâm mình và thế giới tinh thần của một nhà văn có thể là một bí mật lộn xộn đáng kể, một sự hỗn độn. Hemingway đã áp dụng vào văn chương cái ướng nguyện mà nhà văn Anh Kipling đã khuôn đúc nên: "Trước hết là thu thập sự kiện và làm biến dạng chúng theo ý của mình", nhưng ông còn thêm vào đấy một kích thước riêng cho mình: kiểm tra lại chúng từ thực tế. Trong thứ văn học này, thứ văn học tìm kiếm sự cứu rỗi trong sự hoàn mỹ, mà theo Hemingway "sự thanh bạch của nhà văn cũng giống như trinh tiết một cô gái. Nếu nó mất đi thì nó không thể tìm lại được". Cần phải tìm hiểu Hemingway từ một góc độ khác của huyền thoại ông, đằng sau những dòng suối rượu Whisky và Scott của Floridita, những cú đấm của Bodegita del Medio và đằng sau những buổi tối hẹn hò với Ingrid Bergman và Ordonez, đằng sau những ván chọi gà và môn bóng chày. Rồi đằng sau biển cả, trò chơi săn bắn và cả chiến tranh. Hemingway thuộc về cái mà người ta có thể gọi là dòng nhà văn nam tính. Nhưng tất cả cái đó chỉ là chiếc mặt nạ và sự đau đớn. Từ đáy sâu, môn quyền Anh hay tình yêu bạo lực nói lên một triết lý. Thay vì húc mạnh, tốt hơn là có thể chịu đòn mà không van vỉ. Đấy là người đấu sĩ bị thương trên đấu trường trong Chuông nguyện hồn ai, đấy là người võ sĩ quyền Anh nhà nghề giỏi chịu đòn và có thể để mất một trận đấ lừa gạt, đấy là một người đi câu tóm được một con cá tuyệt vời và để mất nó đi. Trong bạo lực, người ta học được sự thất bại. Hemingway từng nói: "Cả thiên hạ đều ở trên võ đài. Người ta chỉ tồn tại khi tung ra những nắm đấm. Tự mình tôi đã đấu đá cho đến ngày cuối và cái ngày đó tôi lại tự đánh mình để chấp nhận cái chết, như là một cái gì đẹp đẽ, cái đẹp giống như người ta từng thấy từ chủ nhật này đến chủ nhật khác trên đấu trường".


Bỗng chốc tất cả đều trở nên rõ ràng. Huyền thoại về sức mạnh cơ thể vô địch chỉ là một thứ đánh lừa mà đằng sau nó là một Hemingway khắc kỷ: sự chiến thắng trong thất bại. Cái con người mà những dân sơn dã ở Vorarlberg mệnh danh là "Chúa Christ, kẻ uống rượu anh đào" là một con người bị tổn thương. Tất cả cũng giống như bạo lực hay rượu, chỉ là một thứ che đậy. Để phục vụ cho truyền thuyết, chiếc mặt nạ đó che chở cho Hemingway và tham gia vào những đồ hóa trang của người săn thú rừng, của phóng viên chiến tranh, của thứ nội tạng không biết chán, một tượng đài đầy nam tính, những cái đã che giấu ông nhưng lại khiến ông phàn nàn: "Tôi muốn được thừa nhận là nhà văn mà không phải là một con người tham gia nhiều cuộc chiến tranh và càng không phải là một võ sĩ quyền Anh hay một kẻ đi săn, một dân đi biển hay một kẻ nát rượu. Tôi chỉ thích là một nhà văn và được nhìn nhận như vậy".


Đấy là điều mà chúng ta ghi nhớ, rằng Hemingway là một nhà văn. Ở tuổi 50, ông kể lại với một nhà báo rằng sự e thẹn của ông vẫn không suy suyển. Là một đứa bé sinh ra ở một khu ngoại ô của Chicago, ông có chiếc cần câu cá từ khi lên 3, có chiếc súng săn cỡ nòng 20 vào năm 11 tuổi và sau đó suốt đời tìm kiếm lại cái thiên đường đã mất của những chuyến đi săn dọc bờ hồ Wallon với cha mình, mảnh đất của bộ tộc da đỏ Ojibway, và đã trở thành thế giới huyền thoại của ông. Có cái gì người ta không nói về ông? Rằng ông thách đấu súng với một kẻ đã nhục mạ ngôi sao Ava Gardner, rằng ông đã cứu nhà văn Dos Passos thoát khỏi bộ sứng một con bò tót ở xứ Andalousie, rằng ông đã giải phóng khách sạn Ritz ở Paris khi cầm đầu một đội quân đánh thuê, rằng ông đã đầu têu cho cái trò mất dạy "Tàu thủy, nhậu nhẹt, nhà thổ, dê đực..." Hemingway chính là mặt trái của huyền thoại về ông. Ông là nhà văn, người không ngớt tuyên bố: "Tôi thích người ta phân tích tác phẩm của tôi hơn là gặm nhấm đời tư của mình". Evely Waugh, người có bộ răng cứng, nhưng đã tìm ra những lời đúng: "Đằng sau những sự phách lối, những lời nguyền rủa, những nắm đấm, đã lộ ra một ý nghĩa cơ bản của tinh thần hiệp sĩ: Sự kính trọng phụ nữ, bênh vực kẻ yếu và ý thức danh dự". Những kẻ dèm pha ông đã tìm thấy ở ông một cái gì đó không thể khoan dung: Vấn đề đạo đức. 40 năm sau khi ông mất, không phải bao giờ người ta cũng tha thứ cho ông về chuyện đó.


Về cái chết của ông, một người bạn của ông, Aaron E.Hotchner, một nhà văn, đã kể lại những ngày cuối cùng của Hemingway và về lý do ông muốn chấm dứt cuộc đời. Hotchner nói: "Người ta thực sự không thể trả lời câu hỏi này. Bởi lẽ không thể tách rời tình thế khách quan ra khỏi tâm trạng của ông lúc bấy giờ. Một trong những yếu tố quan trọng là một loạt những cú chạy điện trị liệu đối với ông. Lúc bấy giờ, việc ứng dụng môn trị liệu bằng chạy điện còn rất sơ khai, tôi không hiểu là những nhân viên kỹ thuật thực hành chuyện đó có thật nắm vững hay không". Đấy là một hàng thịt về mặt tâm thần. Nhưng những năm kinh hoàng nhất là những yếu tố cuối cùng. Sức sống đã lìa bỏ ông. Và ông có những toan tính tự tử. Ông có ý định nhảy xuống từ máy bay rồi ngay sau đó lợi dụng việc bạn bè cho là ông đang ngủ say đã lại định nhảy ra cửa sổ trên cùng chiếc máy bay đó. Ông thường bảo: "Những người Tây Ban Nha hiểu rằng người ta phải sống cuộc đời mình và khi không còn tìm thấy niềm vui sống thì cần chất dứt đi". Đấy là điều mà Hemingway đã làm.

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - HÀ VINH - VƯƠNG TRÍ NHÀN - NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN

Ernest Hemingway (2)


ÔNG GIÀ RÂU TRÊN BIỂN CẢ CHỮ NGHĨA
Trần Mạnh Hảo

Hemingway lao vào cuộc đời như một võ sĩ đấm boxe lao ra trường đấu. Mà quả thực, có lúc, ông nhà văn kỳ lạ này thuở đầu đời đang trên tàu biển sang châu Âu cùng người vợ thứ nhất Hadley, đã tổ chức một trận đấu quyền anh, tự mình lao ra làm đấu sĩ để lấy ít francs giúp đỡ một cô gái bị bỏ rơi. Lúc đã thành danh, có khi ông thỉnh thoảng nổi máu yêng hùng, còn nhảy phóc ra từ bàn nhậu, phanh áo khoe bộ ngực lông lá đầy nam tính rồi thách đấu một tên chó chết nào đó, hoặc đấm những cú trời giáng vào khoảng không cảnh cáo thế gian, hoặc ghi vào mặt thằng cha nào đám xúc phạm ông một vài vết bầm tím gọi là...nhớ đời. Hemingway cuồn cuộn và ào ạt như sông Mixixipi hồng hộc sóng gió, hồng hộc thở ra biển tất cả nguồn cơn vừa phô bày, vừa bí ẩn của nước Mỹ. Có khi ông dàn trải đời mình thành mênh mông như thảo nguyên Chicago ngựa chạy gãy chân không thấu. Có khi ông đùn đẩy đời mình lên thành gò đống, chót vót như đỉnh núi Kilimanjaro, mượn linh hồn con báo mà chết muôn đời trên đỉnh tuyết mây trời vọng tưởng. Cái gì của Hemingway cũng tột cùng. Hemingway tán gái. Hemingway đấm boxe. Hemingway túy ông. Hemingway mê cuồng với đấu trường bò tót. Hemingway săn tê giác và sư tử Phi châu. Hemingway lao sùng sục ra biển Cuba câu cá kiếm. Hemingway viết văn. Hemingway vong thân. Hemingway dấn thân. Hemingway lôn luôn coi Phiden Castro là thần tượng và là bạn thân thiết của nhà cách mạng Cuba này. Hemingway mê mẩn nước Mỹ và ngán nước Mỹ tới tận cổ. Hemingway lẩn thẩn với hư vô...Một cuộc đời 62 tuổi như ông, dù có chia ra hàng chục cuộc đời khác cũng đều mãnh liệt và cùng tận hết mình. Có thể nói, Hemingway-một nhà văn rất Mỹ, từ cuộc đời đến tác phẩm chính là hình ảnh của nước Mỹ thu nhỏ, của một nước Mỹ đam mê và rồ dại, kiêu hùng và bi lụy, tự do và trầm cảm, chếnh choáng và hư vô...

Cùng với Chúa Trời, bò tót, sư tử, cá kiếm, năm người đàn bà có tên và không tên khác đã nhào nặn nên thể xác và tâm hồn Hemingway. Đầu tiên là Grace Hall - mẹ ông, một người đàn bà Anh mắt xanh xinh đẹp, cao lớn, tươi tắn và nồng nàn như bình nguyên nước Mỹ, một giáo viên dạy nhạc tại North Oak Park đã truyền vào ông cả tâm hồn nghệ sĩ đầy mơ mộng, lúc nào cũng bàng bạc như sương và véo von như chim chóc. Cha ông - Ed Hemingway, một bác sĩ y khoa cao lớn, đẹp trai, một tay chơi mê câu cá, mê săn bắn đã "chim" được người phụ nữ âm nhạc này ngay trong trường trung học. Khi Ernest vừa sinh ra, mẹ ông đã viết vào nhật ký những dòng như lời tiên tri về về đứa con trai ngỗ ngược và thiên tài sau này như sau :"Các con chim cổ đỏ hót những bài ca ngọt ngào nhất để chào mừng người viễn khách tí hon đến với thế giới xinh đẹp này". Quả thật, Ernest suốt đời là viễn khách trên quê hương mình, là viễn khách của thế giới, viễn khách của những người đàn bà chết mê chết mệt vì ông, viễn khách trong chính bản thân mình, viễn khách của cái chết và hư vô. Cũng quả thật, cái nhìn của người mẹ đã xuyên suốt cuộc đời ái tình sôi nổi như bão giông sấm chớp của người con trai khi tiên đoán về "Các con chim cổ đỏ " châu tuần quanh người đàn ông cao lớn tới gần hai thước, ngực rộng, vai to, râu hùm hàm én, đẹp trai và chịu chơi vào loại nhất nước Mỹ này. Một con chim cổ đỏ, mỏ đỏ đầu tiên mà Ernest vồ được khi chàng nằm điều dưỡng do bị thương ở chân tại Milan nước Ý năm 1918, lúc mới 19 tuổi là nàng điều dưỡng viên Agnes Hannah Von Kurowsky- hơn chàng gần 10 tuổi. Trong 18 cô điều dưỡng viên đến từ Mỹ xinh như mộng, Ernest đã chọn nàng Agnes Hannah lớn tuổi nhất đám, một nàng xinh tươi, tóc nâu sẫm, có mắc liếc đa tình và khóe cười lúng liếng có thể làm nghiêng lệch cả cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Chàng Ernest lao vào mối tình đầu như con sư tử Phi châu lao vào con sơn dương. Anh chị yêu nhau tưởng có thể sập bệnh xá Croce Rossa Americana đóng tại Milan vẫn còn nằm trong tầm đại bác của quân Áo. Hemingway trong đêm tối chiến tranh nóng nực, dám dũng cảm một mình lao lên cõng một thương binh đang hấp hối người Ý giữa trận tiền và đã hưởng trọn một tràng súng máy của quân Áo vào cẳng chân, khiến cả hai cùng gục xuống trong vũng máu. Từ chuyện dám hi sinh cứu đồng đội này, đã đưa chàng trai trẻ Mỹ từ địa ngục chiến tranh đến với thiên đường có tên là Agnes Hannah tóc nâu sẫm kiều diễm như quà tặng mỹ miều của số phận. Tình yêu trong chiến tranh phải chia lìa vội vã. Chàng phải về Mỹ vì bị thương đi cà nhắc. Còn nàng ở lại Milan tiếp tục băng bó vết thương thể xác và tâm hồn cho những chiến binh thoát chết khác, những Ernest khác. Về Mỹ ngày nào Ernest cũng viết một lá thư cho người tình Hannah nhưng chẳng có hồi âm. Hóa ra, Agnes Hannah đã quên chàng Ernest bé bỏng miệng còn thơm mùi sữa để đú đởn với một tên sĩ quan người Ý đa tình chết tiệt nào đấy. Ernest thất tình như rồ dại. Chàng nguyền rủa nàng - vị nữ thánh của mối tình đầu chính ra chàng phải tôn thờ mãi mãi thì lại đi hận nàng hơn hận quân Áo tí nữa đã xơi tái một cẳng chân mình. Lần đầu tiên yêu và lần đầu tiên bị phản bội, Ernest đã nếm chén đắng của sự thất tình. Ernest đã thề giết chết Agnes Hannah trong tâm hồn mình để rồi làm cho nàng thành bất tử trong một cái tên khác là Catherine Barkley-nhân vật nữ chính trong cuốn tiểu thuyết đã đưa ông lên hàng những văn hào lớn nhất nước Mỹ và thế giới : "Giã từ vũ khí " xuất bản năm 1929. Hemingway hóa thân vào nhân vật Federic Henry để làm sống dậy cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, mối tình thứ nhất, nước Ý thứ nhất, sự rồ dại và đam mê thứ nhất của đời ông và của nhân loại. Tình yêu đẹp tới mức phi lý của Henry và cô y tá Catherine hiện lên lồng lộng như là sự phản đề của cuộc chém giết tàn khốc có tên là chiến tranh. Catherine cuối cùng đã không chết ở chiến hào mà chết bởi tạc đạn tình yêu : chết trong cuộc sinh nở. Thế mà năm 1932, Hemingway điên tiết lên, đã toan tìm đấm vỡ mõm gã đạo diễn để cho Catherine không chết trong phim "Giã từ vũ khí", trái với cái chết của nàng trong tiểu thuyết. Catherine đã chết bởi tình yêu. Nhưng tình yêu này bởi chiến tranh mà sinh ra. Chúng ta có thể "Giã từ được vũ khí" nhưng không thể nào giã từ được tình yêu và nỗi chết. Suốt cuộc đời cuồng nhiệt sống và cuồng nhiệt viết của mình, Hemingway đã bị tình yêu và cái chết, bị những người đàn bà và sư tử Phi châu giằng xé về hai phía thiên đường và địa ngục. Cuốn tiểu thuyết "Mặt trời vẫn mọc " ra mắt năm 1926 của ông là tiếng thở dài của nước Mỹ, là mùi xú uế của cả một thế hệ bị chiến tranh bài tiết ra thành những hòn sống, những cục sống đi lang thang khắp châu Âu và bắc Mỹ như những hồn ma.

Sau thời kỳ vong thân, sau cú thất thần mất hết hồn vía của thế chiến thứ nhất, trước hiểm họa phát xít xuất hiện đe dọa nhân loại, Hemingway tỉnh thức, chợt như nhảy bổ ra từ chai rượu, nhảy bổ ra từ các cuộc câu cá, đi săn để sang Tây Ban Nha tham gia binh đoàn quốc tế bảo vệ nền Cộng Hòa non trẻ, chống lại nhà độc tài Franco. Tiểu thuyết "Chuông nguyện hồn ai "xuất bản năm 1940 là bài ca bi thương nơi cuộc dấn thân của một nhân loại mới ngây thơ và tốt lành, một nhân loại dám xé ngực mình, lấy trái tim làm vũ khí tiêu diệt cái ác. Hemingway đã khoác một y phục khác, một cái tên khác là chàng Rbert Jordan, một chiến sĩ tình nguyện người Mỹ đã đến Tây Ban Nha để chiến đấu bảo vệ nền Cộng Hòa. Trong tận cùng chết chóc, nước Tây Ban Nha hiện lên qua hình ảnh nàng du kích Maria, một thánh nữ đồng trinh của chiến tranh. Tình yêu của Jordan với Maria là tình yêu của một dấn thân này với một bơ vơ khác, là nghẹn ngào tỏ tình cùng nức nở. Tình yêu nào của văn chương Hemingway chừng như cũng là tình yêu của vết thương, tình yêu soi mình trong chiều sâu hút của một cái giếng trong suốt là nỗi chết. "Chết trong chiều nắng tà", cuốn tiểu thuyết ra mắt năm 1932 của Hemingway đã đưa nước Tây Ban Nha trưng ra với thế giới ở một gương mặt khác với nghi lễ thiêng liêng của thuật đấu bò. Đây là một tiểu thuyết bên ngoài tưởng sục sôi, tưởng gào thét điên dại vì việc đấu bò tót; nhưng thực ra đây là tiểu thuyết luận đề, Hemingway bàn về cái chết, một cái chết có vẻ ma thuật và kỳ bí như chính Tây Ban Nha mà suốt đời ngoảnh lại, nhà văn còn thảng thốt đến ngẩn ngơ.


Hemingway bị ba con vật : bò tót, sư tử, cá kiếm rình ông từ ba góc của một tam giác quỷ - đời sống; hệt như năm người đàn bà ông yêu từ Agnes Hannah đến bốn bà vợ của bốn thời kỳ kéo ông ra thành sợi dây thun của hoan lạc và đầy ải. Bốn "triều đại" nữ hoàng trị vì trên tâm hồn và chiếc giường của ông từ "triều " hoàng kim Hadley, qua Pauline, tới Martha rồi Mary Welsh và dừng lại "ở triều" thứ năm-triều đại của hư vô và chấm hết là khẩu súng săn shotgun. May mà trước khi đi tìm con báo trên đỉnh núi tuyết, Hemingway đã kịp ném linh hồn xuống biển Cuba để sinh ra kiệt tác "Ngư ông và biển cả". Cuốn truyện vừa này lần đầu được in trọn trên tờ Life và bán được 5 triệu bản trong vòng 48 tiếng đồng hồ để đạt được giải thưởng Pulitzer và giải Nobel năm 1954. Qua kiệt tác này, mới biết người khổng lồ của văn học phương Tây, một nhà văn Mỹ nhất lại mang một tâm hồn phương Đông, rất Phật và rất Lão Trang vậy. Ông già Santiago này chính là một tên gọi khác của Hemingway đã một mình lênh đênh trên chiếc thuyền câu đơn độc, suốt ba ngày đêm bị con cá kiếm vĩ đại mà ông vừa câu được lôi đi vào muôn trùng biển cả, đến nỗi tưởng như chính con cá kiếm kia đã câu được ông già. Cuộc vật lộn trong ba ngày chết đi sống lại kia của lão Santiago chính là cuộc vật lộn của ông già râu Hemingway suốt một đời lênh đênh và cô đơn tới cùng tận trên biển cả chữ nghĩa. Con cá kiếm nặng tới sáu, bảy tấn, dài và lớn hơn chính chiếc thuyền câu, một sinh vật mạnh và đẹp đến mê cuồng của biển cả khiến chợt nhìn thấy nó, lão Santiago đã rợn da gà vì choáng ngợp. Qua nhân vật Santiago khi con cá kiếm ngoài hành tinh đến cắn câu, chừng như ông già râu Hemingway đã ngó thấy hư vô, hay chính từ phút đó, hư vô đã câu được ông già và lôi đi tới đầu mút của thế giới văn học ? Đằng sau con cá kiếm - linh hồn biển cả kia, ông lão kép Santiago-Hemingway này chừng như nhìn thấy tất cả đàn bà trên thế giới hợp lại và lôi ông đi vào siêu hình tình yêu, siêu hình sự chết. Không, cuộc chiến đấu vĩ đại giữa một nhân loại cô đơn, bé nhỏ, yếu ớt và một thiên nhiên gầm thét, hung tợn tới vô cùng qua bàn tay rách nát và thân thể rớm máu vì cuộc giằng co sống chết của lão Santiago với con cá kiếm, Hemingway, nhà nhân đạo chủ nghĩa đã mang tới một thông điệp :" Con người không được sinh ra để chịu thất bại. Một con người có thể bị hủy diệt nhưng không bị đánh bại". Khi chỉ còn cách cái chết một gang tay, nhờ sức mạnh "không bị đánh bại" ấy, trong rốn thẳm tuyệt vọng, lão Santiago đã phóng ngọn lao cuối cùng của thế giới và giết được hung thần cá kiếm. Chính là dòng suối máu của con khủng long này phun ra biển cả đã mời gọi hàng đàn cá mập kéo tới. Chỉ trong nháy mắt, bọn Pônpốt-Iêngxari này của biển cả đã chén sạch sành sanh thành quả sống chết của ngư ông. Cuối cùng, lão Santiago kéo lên bờ một bộ xương cá kiếm vĩ đại nhất thế giới- một bộ xương của siêu hình tôn giáo. 


Vâng, chính là đàn cá mập nada ( hư vô - tiếng Tây Ban Nha Hemingway hay dùng) được biển cả phái tới Ketchum, sáng chủ nhật ngày 2-7-1961 đã "vồ" được đại văn hào bằng khẩu súng săn hai nòng shorgun. Chính từ khẩu súng này, Hemingway đã từng săn được voi, sư tử, tê giác, báo và thú rừng Phi châu. Lần cuối cùng, ông đã săn được chính bản thân mình bằng một phát đạn tự bắn vào đầu. Không có gì giết nổi con người này kể cả chiến tranh, cả bệnh viêm gan vì rượu, cả hai lần rớt máy bay và nhiều lần bị tai nạn xe hơi- trừ chính bản thân ông. Một lần nữa, Hemingway lại lên đường đi câu con cá kiếm của Chúa Trời ở bên kia thế giới. Ông đã bị hư vô vồ mất và lôi đi trên biển cả chữ nghĩa tới muôn đời. Trước đó, Hemingway đã vồ được vĩnh cửu; hệt như con báo Phi châu đã vồ được đỉnh núi tuyết Kilimanjaro, tìm được "Một nơi sạch sẽ và sáng sủa" nhất thế gian để chết và để cứu rỗi sự vĩnh hằng của cái đẹp đang bị thế giới trần tục này săn đuổi .,.

Đã in trong tập : “ Những vì sao văn học” của Trần Mạnh Hảo-NXB Văn Học 2004
http://www.art2all.net/tho/tho_gh/tmh/hemingway.html

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Ernest Hemingway

Ernest Hemingway
Cuộc đời là một ngày hội lớn
"Cần phải viết ra chỉ một câu thực, một câu thực nhất mà anh từng biết". Kể từ khi đến Paris vào năm 1921, Hemingway không nhằm vào cái đích nào khác. Sau đó một ít, ông nói thêm: "Người ta có thể gạch xóa đi bất cứ điều gì nếu ý thức được về cái mà mình xóa và về việc xóa đi đó tăng sức mạnh cho câu chuyện và làm cho người ta cảm thấy ngoài cái họ hiểu ra còn có một cái gì khác nữa". Với đôi điều thôi, thế là đã đủ khi nói về Hemingway qua hai lời trích dẫn ấy. Người ta đã nói đủ thứ về những ám ảnh của ông như là tinh chất của tài năng văn học của ông. Ở đấy lộ ra sự quan tâm của ông đến sự chính xác, đến tính chân thực của quan sát, không mang chất cảm động và không bình luận. Và cả cái sở thích thường trực về việc tước bỏ đi những chữ thừa. Theo quy tắc chung: cái mà người ta lược bớt đi lại mạnh hơn rất nhiều so với việc phát triển nó ra và cá mà người ta tưởng tượng còn mạnh mẽ hơn nhiều cái mà người ta biết được.

Trong tác phẩm đầu tay ông xuất bản vào năm 1923, Ba thiên truyện và 10 bài thơ, Hemingway làm người ta nghĩ đến một truyện kể mang tên Trái mùa: sự hồi tưởng về một chuyến nghỉ ở Cortina d'Ampezzo cùng vứi bà vợ đầu của ông là Hadley. Ở đấy có chuyện về một ông già say rượu là Peduzzi mon men làm quen một cặ vợ chồng trẻ người Mỹ tại khác sạn và dẫn họ đến một nơi lắm cá của con sông mặc dù có lệnh cấm đánh bắt vào mùa đó. Nhưng lão Peduzzi chỉ quấy phá. Lão không kẹp chì vào dây chăng lưới. Lão chỉ nghĩ đến việc moi tiền khách hàng để đi uống rượu. Tóm lại chuyến đánh cá bị xếp lại và tác giả nghĩ rằng chuyện đó sẽ chẳng bao giờ có thực. Chuyện chỉ có thế. Ông chẳng nói thêm gì khác trong mấy trang tiếp theo. Sự thực, lão già đã tự treo cổ vào ngày hôm sau đó. Nhưng Hemingway cố tình bỏ đi chi tiết đó.

Câu chuyện rất hay, nếu có thể nói thế. Chủ đề đã được nói lên rất rõ ràng. Khi mà những nhà văn khác có thể bị ra sự tự tử để kết thúc thiên truyện thì Hemingway, mặc dù chứng kiến điều đó, lại bỏ qua đi. Ông đã làm cho người ta cảm nhận được sự thất vọng của nhân vật của ông. Thế là đủ, "phần bị tước bỏ tăng sức mạnh cho câu chuyện". Chúng ta có thể nói cách khác: Hemingway là một trong số những nhà văn lớn về viết ngắn của thế kỷ này.


Thật tuyệt vời khi tên tuổi bình thường, nằm trong danh sách các nhân vật được tôn vinh của thế kỷ XX. Nhưng đúng ra người tôn vinh điều gì ở ông? Một Hemingway huyền thoại chân đi ủng, người đi săn trong rừng rậm châu Phi, một đấu sĩ bò tót nghiệp dư, một võ sĩ quyền anh không chính ngạch, một người hay cãi lộn ở các hộp đêm, người đi câu cá kiếm ngoài khơi vùng biển Key West, một người giả vờ đóng vai gián điệp và săn lùng tàu ngầm quốc xã khi đến sống ở La Havane, hay hơn nữa một phóng viên chiến tranh đã tham gia "giải phóng" Paris và khách sạn Ritz vào tháng 8/1944, chẳng bao lâu sau, tiếp Jean-Paul Sartre và Marlene Dietrich trong căn phòng 31 nổi tiếng.


Tiểu thuyết gia này đã thành công với tác phẩm Mặt trời cũng mọc hay Giã từ vũ khí? Hẳn vậy rồi, đấy quả là những tác phẩm hay. Nhưng theo quy tắc chung, phải chăng những cuốn tiểu thuyết của Hemingway là những truyện ngắn chuyển thành một cách vụng về vì không có thì giờ để gọt cho ngắn lại? Chuông nguyện hồn ai là gần như thế. Ông già và biển cả lấy từ một truyện kể triết lý rút ra từ dòng đó. Jerome Charyn, trong một cuốn sách của một bộ sưu tập Những phát hiện dành cho nhà văn, đã không nói khác: "Ông không có được cái cảm quan sâu sắc về cấu trúc so với Faulkener. Sự thông thái của ông chỉ nằm bên trong sự chặt chẽ cô đọng của truyện ngắn mà không phải trong sự hỗn độn của một thiên tiểu thuyết". Sự thực đấy là một nhà văn ưa sự ngắn gọn, tiết kiệm ngôn từ đến mức tối đa, chỉ đưa ra những chi tiết và đôi khi gây ra một cảm giác bất ngờ về thiên nhiên (ông từng nói: "Viết về đồng quê theo cách mà Cézanne đã vẽ trong những bức tranh của ông"). Chính là cái chất Hemingway đó mà người ta muốn tôn vinh, và ngày nay còn đọc đi đọc lại với sự thán phục sững sờ.


Khi nói đến Hemingway, người ta liên tưởng đến Scott Fitzgerald (người mà ông đã vẽ ra một bức chân dung chính xác nhất trong Paris là một hội hè). Lý do càng mạnh hơn khi nói đến những truyện ngắn của họ. Thiên tiểu thuyết đầu tiên Mặt trái của Thiên đường làm cho Fitzgerald nổi tiếng sau một đêm vào năm 1920. Nhưng chính những truyện ngắn ông viết ra dài dài sau đó và bán cho các tạp chí Mỹ với giá vàng là cái mà ông kiếm sống. Hemingway khởi đầu với những tập truyện ngắn, đặc biệt là cuốn Về thời buổi này năm 1924. Nhưng chính thiên tiểu thuyết đầu tiên Mặt trời vẫn mọc năm 1926 và những cuốn tiếp đó mang lại vinh quang và phương tiện sống cho ông. Những truyện ngắn của Fitzgerald giống như những thiên tiểu thuyết nhỏ có hàng đống nhân vật và một kết thúc thật tuyệt vời. Ông không ngần ngại chiều theo thị hiếu độc giả và những tạp chí đặt hàng ông. Những tiểu thuyết của Hemingway, như người ta nói, nhiều khi là những truyện ngắn kéo dài, nhưng trong những truyện ngắn gọn đó hành động được giản lược thành đồ thức, ông không hề nhân nhượng một chút nào. Ở đấy sự toàn vẹn nghệ thuật của ông đạt tới đỉnh cao. Ông từng nói: "Tôi thử sức mình trong nghề văn bằng những sự việc đơn giản nhất, cái đơn giản hơn hết và cái cơ bản nhất là cái chết tàn khốc." Những cái đơn giản nhất ư? Còn hơn thế. Người đọc bối rối từ truyện này đến truyện khác vì lao động của nhà văn, sự sáng tạo của ông, cái cảm quan về việc dùng từ thật đắt và thật đúng chỗ. Và cả cái tài về đối thoại làm cô lại thực tại một cảnh huống. Truyện 50.000 USD hay Những kẻ giết người chính là những mẩu chuyện mẫu mực. Những truyện ngắn về Nick Adams, hóa thân của ông, là sự trong suốt đến tàn nhẫn và xé lòng người. Cứ mỗi bận Hemingway lại lột trần ông ra ngay cả khi ông tạo ra những tác phẩm hư cấu. Ông nói: "Thứ văn chương đáng giá nhất là cái mà người ta sáng tạo ra, tưởng tượng ra. Cái làm cho sự việc trở nên thật." Ông cũng thú nhận thích thú của ông về chủ nghĩa anh hùng hay nỗi sợ hãi đối với sự lười biếng, sự ám ảnh về việc tự tử hay những hành vi mang tính tự sát, những dũng sĩ đấu bò của ông tiến ra trước cặp sừng của những con bò mộng, những võ sĩ quyền Anh trước nguy cơ bị "nốc ao", những người lính của ông trước họng súng liên thanh của kẻ thù và những chàng trai xấu số trước những kẻ giết người bằng hơi độc. Hơn nữa, ông thú nhận sự thán phục của mình trước một ngọn đồi ở Michigan, màu xanh óng ánh của con cá hương trên sông...


Hemingway huyền thoại mang trong bản thân ông, cho đến lúc chịu những suy thoái cuối cùng, chứng mê sảng, chứng mất ngủ hay nỗi sợ về sự bất lực, một cái gì đó quá lớn lao, quá phì nhiêu, quá kịch tính. Ngược lại chàng Hemingway lúc trẻ thì bảo tồn một cái gì đó khô khan. Hơn thế, ông viết với một phong cách khô khan. Và đấy là cái khiến ông trở thành vĩ đại nhất. Một mẫu mực của văn học.
CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - HÀ VINH - VƯƠNG TRÍ NHÀN - NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN