Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

William Faulkner

Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người
(Diễn từ nhận giải Nobel)
Nhà văn Mỹ - William Faulkner
Tôi cảm nhận rằng giải thưởng này không phải trao cho tôi với tư cách một con người mà là cho công trình của tôi - công trình cả một cuộc đời tạo tác trong nỗi thống khổ và nhọc nhằn của tinh thần con người, không phải vì danh và nhất là không phải vì lợi mà là để sáng tạo ra từ những chất liệu của tinh thần con người một cái gì trước đây chưa từng có. Vì vậy, giải thưởng này chỉ thuộc về tôi trong kỳ vọng. Tìm cách cống hiến khoản tiền trích từ giải thưởng cho tương xứng với mục đích và ý nghĩa khởi nguyên của nó không phải là việc khó khăn. Nhưng tôi cũng muốn làm như vậy với sự hoan nghênh nhiệt liệt bằng cách sử dụng giây phút này như một chóp đỉnh để từ đó, tôi có thể được những chàng trai và những cô gái trẻ lắng nghe, những kẻ đã sẵn sàng hiến mình cho nỗi khắc khoải và sự lao tác tương tự, trong số họ chắc chắn có một người vào một ngày nào đó sẽ đứng ở đây, nơi tôi đang đứng.

Bi kịch ngày hôm nay của chúng ta là nỗi sợ hãi chung và phổ quát mà chúng ta đã chống đỡ lâu đến mức ngay cả giờ đây chúng ta vẫn có thể chịu đựng nó. Không còn những vấn đề của tinh thần nữa. Chỉ còn một câu hỏi: Bao giờ ta sẽ nổ tung đây? Vì lẽ đó, người cầm bút trẻ tuổi hôm nay đã lãng quên những vấn đề của tâm hồn con người trong cuộc xung đột với chính nó, điều duy nhất có thể tạo ra tác phẩm hay, bởi đấy chính là điều duy nhất đáng để viết, đáng để thống khổ và nhọc nhằn.

Chân dung nhà văn William Faulkner -
tranh chì của Darrell Berry
Hắn phải học những vấn đề này lần nữa. Hắn phải tự giáo huấn rằng, điều hèn kém nhất trong tất cả mọi điều là sợ hãi, và tự giáo huấn rằng, hãy quên điều đó đi vĩnh viễn, đừng dành khoảng trống này trong văn phẩm của hắn cho bất cứ cái gì khác ngoài những chân lý cổ sơ, những sự thật của trái tim, những sự thật phổ quát xưa cũ mà nếu thiếu vắng chúng, câu chuyện nào cũng sẽ phù du và đáng bị kết án - đó là tình yêu, danh dự, xót thương, kiêu hãnh, trắc ẩn và hy sinh. Hắn sẽ phải lao tác dưới một lời nguyền rủa cho đến khi nào hắn làm được như thế. Hắn sẽ không viết về tình yêu mà chỉ viết về dục vọng, về những thất bại mà trong đó chẳng kẻ nào mất mát điều gì có giá trị, về những chiến thắng không có hy vọng và tệ hại hơn hết không có cả tình thương và lòng trắc ẩn. Những nỗi phiền muộn của hắn không khắc sâu trên những lóng xương nhân loại, cũng không để lại một vết sẹo nào. Hắn không viết về trái tim mà chỉ viết về các tuyến nội tiết.

Khi nào chưa học lại được những điều đó, hắn còn viết như thể hắn đang đứng giữa những con người mà nhìn ngắm sự lụi tàn của họ. Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người. Quả là dễ dàng khi nói rằng con người bất tử chỉ vì nó sẽ nhẫn nại; rằng khi tiếng chuông cuối cùng của ngày tận thế vang rền và tắt lịm từ mỏm đá cuối cùng tầm thường cheo leo khô cằn trong buổi hoàng hôn cuối cùng đỏ rực và chết chóc; rằng ngay cả khi ấy nữa vẫn còn một âm thanh: đó là tiếng nói yếu ớt không mệt mỏi của con người đang tiếp tục trò chuyện. Tôi khước từ chấp nhận điều này. Tôi tin tưởng rằng, con người sẽ chiến thắng. Nó bất tử không phải vì giữa muôn loài nó có một tiếng nói không mệt mỏi, mà là vì nó có một linh hồn, một tinh thần có khả năng trắc ẩn, hy sinh và nhẫn nại. Bổn phận của nhà thơ và nhà văn là viết về những điều ấy. Đó là đặc quyền của hắn để giúp con người chịu đựng bằng cách nâng cao tâm hồn mình, bằng cách nhắc nhở con người về can đảm, danh dự, hy sinh, những gì đã từng là vinh quan trong quá khứ của họ. Tiếng nói của nhà thơ cần phải không chỉ là di tích của con người, mà còn có thể là những điểm tựa, những cột trụ giúp con người chịu đựng và chiế thắng.


Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Claude Simon

Diễn từ nhận giải Nobel (trích)

Nhà văn Pháp Claude Simon
Thưa quý bà, quý ông
Cảm xúc của một người được Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn vinh thể hiện trọn vẹn trong bức thư mà một bạn đồng viện Nobelo, Tiến sĩ André Lwoff, có nhã ý gửi cho tôi:

“Nghiên cứu là một trò chơi hoặc một ván bạc”. “Thắng hay thua chẳng có gì quan trọng, ít ra trên lí thuyết là như vậy. Tuy nhiên các nhà khoa học (và tôi xin nói thêm, các nhà văn) đều giống trẻ nít về một mặt nào đó. Giống lũ trẻ, họ thích thắng và cũng giống lũ trẻ, họ thích giải thưởng”. Bởi vậy, ông André viết thêm: “Tự trong đáy lòng, nhà khoa học nào (tôi lại xin nói thêm, nhà văn nào) cũng khao khát được công nhận”.

Phải thú nhận rằng tôi không quá kiêu căng hay thậm chí ngu ngốc đến mức không biết rằng bất cứ lựa chọn nào trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng đều gây tranh cãi, và trong chừng mực nào đó, võ đoán; và tôi là người đầu tiên coi nhiều nhà văn khác tôi rất kính trọng ở Pháp và các nước khác, là những người hoàn toàn xứng đáng nhận giải thưởng này như mình.

Hãy đặt sang một bên những lời phàn nàn rằng tôi là một nhà văn “khó hiểu”, “buồn chán”, “không thể đọc nổi” hay “bát nháo”, hãy nhớ lại rằng những chê trách tương tự luôn được gán cho bất cứ nghệ sĩ nào dám lật đổ dù chỉ chút ít những thói quen cố định và trật tự sẵn có, thay vào đó, chúng ta hãy tự chất vấn về cung cách mà con cháu của những người đó đã có thời chẳng thấy gì trong các bức tranh ấn tượng chủ nghĩa ngoài những hình thù méo mó (nghĩa là không thể luận được) và ngày nay thì xếp hàng dài bên ngoài các cuộc triển lãm và bảo tàng để chiêm ngưỡng cũng chính những họa sĩ bôi bác đó.

Cũng như vậy, chúng ta hãy gạt sang một bên những ám chỉ rằng các vị đã bầu chọn cho tôi theo ý đồ của các điệp viên thuộc một cơ quan cảnh sát chính trị nào đó, trà trộn giữ các vị đang ngồi đây, tuy nhiên cũng nên lưu ý một điều lạ lùng là thậm chí ngày nay đối với một nhóm người nhất định, Liên bang Xô viết vẫn còn là biểu tượng cho một thế lực thù địch đáng sợ uy hiếp trật tự xã hội, thế lực mà tôi một nhà văn bình thường, có vinh hạnh được liên kết.

“Có phải họ trao giải Nobel cho Claude Simon để khẳng định tin đồn rằng cuối cùng tiểu thuyết đã chết?” một nhà phê bình hỏi. Cái mà ông ta dường như không để ý là nếu với chữ “tiểu thuyết” ông ta muốn nói đến hình mẫu văn học được thiết lập ở thế kỷ 19, thì quả thực nó đã chết rồi, bất kể đã có bao nhiêu sách in ra về những cuộc phiêu lưu dễ thương hay rùng rợn, với kết thúc có hậu hay tuyệt vọng, mà các nhà ga và hiệu sách vẫn đang bán và mua và sẽ còn bán rất lâu nữa, dưới những tựa đề loan báo chân lí mới được tiết lộ như Phận người, Hy vọng hay Những con đường tự do.

Bây giờ tôi đã là một ông già. Giống như cuộc đời của vô số người sống ở châu Âu già cỗi này, phần đời ban đầu của tôi bị xáo trộn không ít. Tôi đã chứng kiến một cuộc cách mạng. Tôi đã ra trận trong những tình huống đặc biệt chết chóc (trung đoàn của tôi là một trong những đơn vị bị bộ tổng tham mưu lạnh lùng hi sinh từ trước, đến nỗi mà một tuần sau hầu như chẳng còn ai sống sót). Tôi bị bắt làm tù binh. Tôi biết thế nào là đói khát. Đã từng bị dồn đến mức kiệt lực vì lao động chân tay. Đã trốn. Đã từng ốm nặng, nhiều lần tưởng chết tự nhiên hoặc suýt bị giết, tôi đã gánh chung vai với mọi loại người; trong mọi hoàn cảnh, từ tu sĩ đến kẻ đốt đền, từ nhà tư sản hòa bình đến phần tử vô chính phủ, triết gia và người mù chữ. Tôi đã chia sẻ miếng bánh với những kẻ cơ nhỡ, nói tóm lại, tôi đã ở giữa nhân quần… với tất cả tuy nhiên vẫn chẳng tìm thấy ý nghĩa nào trong mọi chuyện đó, có thể trừ một ý nghĩa gắn liền với cuộc đời mà Barthe, phỏng theo Shakespeare, đã nói rằng “nếu thế giới có một ý nghĩa, thì đó là nó chẳng có ý nghĩa gì cả” trừ việc nó tồn tại.

Thỉnh thoảng người ta hay nói, duy có điều là quá trôi chảy và ngoài chỗ cần nói, về chức năng và nhiệm vụ của nhà văn. Vài năm trước đây, một số người không phải không mị dân đã sau đây một thành ngữ tự nó đã mâu thuẫn, thậm chí đi đến chỗ tuyên bố rằng “một cuốn sách chẳng đáng gì so với cái chết của một em bé ở Biafra”. Nhưng tại sao một cái chết như thế khác, với cái chết của một con khỉ con, lại không thể chịu đựng nổi? Hiển nhiên bởi vì đứa trẻ là một con người, tức là được phú cho một trí tuệ, một ý thức (tuy ở dạng phôi thai) và nếu sống sót, một ngày kia nó sẽ có khả năng tư duy và nói lên nỗi khổ của mình, sẽ đọc được những điều viết về nỗi khổ của người khác, và đến lượt mình sẽ biết xúc động và nếu may, sẽ viết về điều đó.

Trước khi thế kỷ ánh sáng kết thúc, trước khi huyền thoại về chủ nghĩa hiện thực hình thành, Novalis đã nêu lên với một sự sáng suốt đáng kinh ngạc nghịch lí này: “Ngôn ngữ cũng giống như các công thức toán học, cả hai đều chứa đựng những thế giới riêng những thế giới tự thân. Hoạt động của chúng là độc nhất và nội tại, chúng không thể hiểu gì ngoài bản chất kì diệu của mình, và chính điều đó làm cho ngôn ngữ và toán học giàu sức biểu hiện đến thế, khiến bên trong hai thế giới đó, tác động lẫn nhau của sự vật được phản ánh một cách hết sức đặc biệt”.

Chính trong lúc tìm kiếm tác động qua lại này mà có lẽ người ta có thể hình dung hành động viết văn, hành động tuy khiêm tốn nhưng góp phần làm thay đổi thế giới mỗi khi nó làm thay đổi cách thức sau đây ngôn ngữ của con người, dù ở mức độ nhỏ nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, con đường đó sẽ khác hẳn với mọi người viết tiểu thuyết khởi đầu bằng “phần đầu” và kết thúc bằng “đoạn kết”. Con đường kia, dễ khiến một nhà thám hiểm ở một xứ sở xa lạ mất nhiều công sức mới tìm ra (anh ta phải quên mình đi, trở đi trờ lại những lối mòn, lạc đường bởi sự giống nhau của các địa điểm, những khía cạnh khác nhau của cùng một địa điểm) sẽ thường xuyên qua những giao điểm đã đi nhiều lần, ở cuối cuộc điều tra xâm nhập những hình ảnh và cảm xúc “tức thời” chẳng cái nào gần hơn hay xa hơn cái kia (ngôn từ có một sức mạnh kì diệu là làm xích lại gần và chồng lên nhau những đối tượng lẽ ra vẫn nằm rải rác trong thời gian đo đếm được),  cuộc hành trình đó rất có thể kết thúc với việc anh ta trở lại điểm xuất phát, chỉ có điều là giàu có hơn nhờ biết được vài phương hướng, bắc vài cây cầu, và nếu có vài nét đặc thù xuyên thấu một cách bướng bỉnh, và đừng phô phang yêu sách đòi nói những chuyện tầm phào, anh ta thậm chí có thể đạt tới cái lẽ thường để mọi người dù ít hay nhiều có thể nhận ra anh ta trong đó.


Cao Hành Kiện (Gāo Xíngjiàn)

Thủ pháp hiện đại và tính dân tộc trong tiểu thuyết
"Nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai" - Cao Hành Kiện
Nhà văn Cao Hành Kiện -
Nobel văn chương 2000
Cái thường được gọi là hình thức dân tộc trong văn học Trung Quốc nghĩa là gì? Trong thơ, ít nhiều mọi chuyện cũng rõ ràng: chủ yếu đó là những khuôn mẫu âm điệu và niêm luật thơ cổ điển, hình thức ca dao. Hình thức dân tộc trong thơ cổ điển liên quan đến hai truyền thống thi các khác nhau nói trên. Trong văn xuôi, nói cho đúng ta chỉ có tiểu thuyết chương hồi mà rất ít nhà văn ngày nay còn sử dụng. Hình thức văn xuôi phần lớn các nhà văn Trung Quốc sử dụng từ cuộc vận động Ngũ Tứ (1919) chủ yếu xuất phát từ truyền thống văn xuôi phương Tây thế kỷ XVIII và XIX.

Tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc vẫn còn sử dụng thủ pháp truyền thống nào từ khi từ bỏ lối viết chương hồi? Thủ pháp được nói nhiều nhất trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc là phương pháp miêu tả trực tiếp, một thuật ngữ vay mượn của hội họa: phác họa các đường nét chính với những nét thoáng, sau đó thêm vào những nét quyết định tạo thần thái cho tác phẩm. Áp dụng vào văn  xuôi, phương pháp này chắc chắn rất độc đáo. Nhà văn ngắt quãng dòng tự sự khi đến cao trào, làm tăng hứng thú của độc giả, bắt độc giả chờ đợi diễn biến tiếp theo ở chương sau.

Một số tiểu thuyết gia sử dụng thành công kỹ thuật này. Số khác sử dụng nó đồng thời tiếp nhận những thủ pháp khác học được của truyền thống hiện thực phương Tây. Việc tiếp nhận kỹ thuật phương Tây không nhất thiết làm hại đến tính dân tộc. Câu hỏi ở đây là: những nhà văn từ thời Ngũ Tứ đã thôi sử dụng phương pháp miêu tả trực tiếp với tư cách là thủ pháp biểu hiện chủ yếu (số này rất đông), từ bỏ truyền thống, họ có làm hỏng hay biến dạng tính dân tộc trong tác phẩm hay không? Câu trả lời hiển nhiên là “không”.

Vậy là tính dân tộc trong văn học là gì? Turgenev nói rất đúng rằng “dân tộc” của ông chính là tiếng Nga. Nhà văn sáng tạo thông qua ngôn ngữ; tính dân tộc trong tác phẩm của ông toát ra trước hết và chủ yếu từ khả năng khai thác tiềm năng nghệ thuật của ngôn ngữ đó.

Trung Quốc là một đất nước có nhiều dân tộc, ở đó Hán ngữ là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ tác phẩm văn chương nào được viết bằng Hán ngữ, hoặc ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào, đều phản ánh tính dân tộc của những mức độ khác nhau.

Ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta tư duy và truyền đạt tư tưởng. Một tác phẩm viết bằng một ngôn ngữ dân tộc tất nhiên sẽ phản ánh truyền thống văn hóa, lối sống và cách suy nghĩ của dân tộc đó. Bất kể một nhà văn Trung Quốc nào cũng có thể vay mượn kỹ thuật nước ngoài, miễn là anh viết bằng một thứ tiếng Trung Quốc thuần thục, tiêu biểu thì tác phẩm ấy nhất định phải có phong vị dân tộc. Nước Italia mà Gorky miêu tả sẽ vẫn là nước Italia trong văn học Nga. Cũng như vậy, đối với nước Mỹ nhìn qua góc độ một nhà văn nhập cư Trung Quốc. Những mô tả của anh ta khác căn bản với mô tả của các nhà văn Mỹ.

Khi nhà văn miêu tả thực hiện dân tộc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nếu tác phẩm của anh ta càng sinh động thì tính dân tộc càng cao. Thủ pháp sử dụng chỉ là thứ yếu.

Nữ thần, tập thơ của Quách Mạt Nhược, hiển nhiên là chịu ảnh hưởng của Walt Whitman. Tuy nhiên không ai nghĩ đây là thơ ngoại quốc. Phong cách thơ tự do của Nghĩa Thạch không chỉ bắt nguồn từ trường phái ấn tượng và tượng trưng, nó còn phản ánh ý thức nỗ lực của nhà thơ nhằm phá vỡ khuôn khổ thơ ca dân gian. Lỗ Tấn còn cực đoan hơn khi chủ trương “nguyên lý hiệu quả”. Trong truyện và thơ của ông có sự pha trộn giữa các thủ pháp hiện thực phê phán lãng mạn, ấn tượng, tượng trưng và siêu thực. Trong Nhật ký người điên, Lỗ Tấn đã đi trước Kafka: ông vay mượn của Gogol thủ pháp thô kệch. Tác phẩm thơ văn xuôi, Khách qua đường của ông chẳng khác mấy kịch của Pirandello, và được viết nhiều năm trước khi có các vở kịch của Ionesco và Beckett. Ông sử dụng thủ pháp tượng trưng trong Thầy lang Báo thù, thủ pháp ấn tượng trong Chuyện người tốt, Hành KhấtMưa thu, thủ pháp siêu thực (mà lúc đó mới chỉ bắt đầu hiện thực ở phương Tây) trong Bia mộ Dao động. Hơn nữa, A.Q chính truyện được viết theo một lối chưa từng có trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc.

Các nhà tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc xuất chúng nhất, Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Đinh Linh đều phối hợp các kỹ thuật phương Tây để tạo ra phong cách riêng của họ. Độ sâu rộng của hiện thực, tính cách của các tầng lớp xã hội được miêu tả trong các tác phẩm của họ vượt xa những nhà văn khư khư giữ lấy cách viết truyền thống.
Tranh mực tàu của Cao Hành Kiện
Khi Lỗ Tấn viết A.Q chính truyện có lẽ ông không chủ tâm tìm kiếm một hình thức dân tộc cho văn xuôi. Tuy nhiên giọng văn điềm tĩnh riêng có ở ông, trong đó pha trộn cảm tình với châm biếm, đã cho phép ông không những thể hiện cuộc đời cơ cực và tâm lý của một người nông dân mà còn phản ánh được đời sống và tâm lý xã hội nửa thực dân phong kiến khi ấy. Khi đọc truyện ngắn này, nhà văn Romain Rolland, một người tắm mình trong văn hóa Latin và trưởng thành trong một xã hội hoàn toàn khác với Lỗ Tấn, đã không kìm nổi những giọt nước mắt. Tiểu thuyết Gia tộc của Ba Kim, với nội dung tập trung vào số phận và khát vọng của thanh niên Trung Quốc trước và sau phong trào Ngũ Tứ, cũng gây được ấn tượng cho nhiều độc giả phương Tây. Điều đó chỉ ra rằng nếu một nhà văn miêu tả chân thực của đời sống nhân dân, độc giả ở các nước khác cũng sẽ xúc động và hiểu như độc giả trong nước.

Thủ pháp nghệ thuật vượt qua mọi biên giới quốc gia. Nó không phải là độc quyền của một dân tộc nào. Tinh thần dân tộc có một lịch sử lâu dài, mạnh mẽ và bền bỉ hơn tuổi thọ tương đối ngắn của một thủ pháp. Nó là tổng hòa của truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán xã hội, khuôn mẫu tâm lý, thói quen thẩm mỹ và phong cách tư duy. Việc sử dụng và tiếp thu các thủ pháp mới không bao giờ là trở ngại cho sự phát triển lành mạnh của văn học dân tộc.

Việc tìm kiếm các thủ pháp nghệ thuật không phải lúc nào cũng đem lại kết quả. Phần lớn các nghệ sĩ lớn đều trải qua những thất bại cay đắng. Họ không nghĩ rằng tất cả các tác phẩm của họ sẽ trở thành kinh điển và sống mãi với hậu thế. Thực tế có những tác phẩm lớn mà khi ra đời không được xã hội công nhận. Tuy nhiên lịch sử mới là người cầm cân. Thậm chí nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai. Đó là một thái độ nên có khi bàn về truyền thống và cách tân.

Xem thêm về Cao Hành Kiện:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=7019

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=6964

http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2005/05/3B9ACFE6/

http://evan.vnexpress.net/Search/?p=1&r=5&a=3&s=Cao%20H%26%23224%3Bnh%20Ki%26%237879%3Bn

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Octavio Paz

ĐI TÌM THỜI HIỆN ĐẠI
(diễn từ nhận giải Nobel)
Tư tưởng về cái Hiện Đại là một thứ phẩm của quan niệm về lịch sử như một quá trình liên tục, thẳng duột và không thể được lặp lại. Dù các ngọn nguồn của nó nằm ở trong Do thái Cơ đốc giáo, tư tưởng về cái Hiện Đại là một sự đoạn tuyệt với học thuyết Cơ đốc giáo. Cơ đốc giáo đã phá bỏ thời gian chu kỳ của những người theo đa thần giáo. Cơ đốc giáo quan niệm rằng lịch sử không bị lặp lại, nó có một khởi thủy và sẽ có chung cục; thời gian liên tục là thời gian trần tục của lịch sử, là sân khấu hành động của những người đã ngã xuống, nhưng bị nhồi nhét vào thời gian thần thánh, không có khỏi thủy cũng chẳng có chung cục. Sau ngày Phán xử cuối cùng, trên thượng giới cũng như dưới địa ngục, sẽ chẳng có tương lai. Trong cõi Vĩnh Hằng không xẩy ra điều gì vì tất cả đã hoàn thiện. Thắng lợi của con người đối với tương lai. Thời gian mới, thời gian của chúng ta là thời gian thẳng đuột như quan niệm của Cơ đốc giáo nhưng lại mở về vô hạn và không phân biệt với cái Hiện Đại. Thời gian của chúng ta là thời gian của lịch sử thế tục. Thời gian không thể quay trở lại và mãi mãi không kết thúc, nó đang tiến về không phải sự chung cục mà là về tương lai. Mặt trời của lịch sử được gọi là tương lai và tên gọi của phong trào hướng tới tương lai là Tiến Bộ.

Đối với Cơ đốc giáo, thế giới - hoặc giả như trước đây được gọi là hai năm mươi, đời sống trần gian - là một địa điểm thử thách: linh hồn bị tiêu tan hay được cứu rỗi trên thế giới này. Đối với quan niệm mới, chủ thể lịch sử không phải linh hồn cá nhân mà là loại người, lúc này được hiểu như là một toàn thể lúc khác lại được hiểu qua một nhóm được chọn làm đại diện cho loài người, ví như các quốc gia phát triển của phương Tây, giai cấp vô sản, chủng tộc da trắng hoặc bất kỳ một nhóm người nào. Truyền thống truyền thuyết đa thần giáo và ky tô giáo đã đề cao Con Người, sự hoàn thiện, toàn mỹ. Chúng ta yêu mến sự Thay Đổi: động lực của sự tiến bộ và khuôn mẫu của các xã hội chúng ta. Sự Thay Đổi có hai hình thức biểu hiện được tôn vinh: tiến hóa và cách mạng, bước đều và nhảy vọt. Cái hiện đại là mũi nhọn của vận động lịch sử, và là sự hiện diện bằng xương thịt của tiến hóa hay của cách mạng đó là hai mặt của sự tiến bộ. Cuối cùng sự tiến bộ được thực hiện nhờ hành động nhân đôi của khoa học và của kỹ thuật, được áp dụng cho sự thống trị giới tự nhiên và cho sự sử dụng các của cải bao la của nó.


Con người hiện đại, tự khăng định mình như là con người lịch sử. Một số xã hội khác lại muốn tự khẳng định mình bằng những giá trị và tư tưởng ngược lại với sự thay đổi: những người Hy Lạp đầu độc nữ thần Polis và hoàn cảnh xung quanh mà họ không biết đến sự tiến bộ, sự quay trở lại vĩnh viến khiến cho Seneca cũng như một số kẻ khắc kỷ khác phải mất ngủ, thánh Augustin tin rằng sự chung cục của thế giới là đáng sợ, thánh Tomas làm một thang bậc cho con cháu Đấng Sáng Thế. Những tư tưởng và niềm tin tôn giáo ấy cái nọ theo cái kia đều bị từ bỏ. Hình như tôi cũng thấy rằng điều đó đã bắt đầu xảy ra đối với tư tưởng về sự tiến bộ, và do đó đối với nhãn quan của chúng ta về thời gian, về lịch sử và về chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến buổi chạng vạng tranh tối tranh sáng của tương lai. Sự chìm xuống của tư tưởng về cái Hiện Đại và sự thăng lên của một quan niệm rất lơ mơ như quan niệm "hậu hiện đại", chúng không chỉ là những hiện tượng từng tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật và văn học mà còn là khung cảnh trong đó chúng ta sống cuộc khủng hoảng các tư tưởng và niềm tin tôn giáo cơ bản từng lay động con người suốt hai thế kỷ nay. Về vấn đề này trong nhiều dịp tôi đã đề cập khá đầy đủ. Ở đây, tôi chỉ có thể làm một bản tóm lược ngắn gọn.


Thứ nhất, Quan niệm về một quá trình mở tới vô hạn và đồng nghĩa với sự tiến bộ liên tục đã bị cấm. Hầu như tôi chỉ cần dẫn ra điều mà tất cả chúng ta đã biết: của cải thiên nhiên là có hạn và một ngày nào đó sẽ cạn kiệt. Ngoài ra, chúng ta đã gây nên tổn hại không thể bù đắp nổi đối với môi trường tự nhiên và chính nó đang bị đe dọa. Mặt khác, các công cụ của sự tiến bộ - khoa học và kỹ thuật - đã chứng minh với một sự sáng tỏ đáng sợ rằng: chúng có thể đễ dàng trở thành công cụ phá hoại. Cuối cùng sự tồn tại của vũ khí hạt nhân là một sự phản bác của tư tưởng về sự tiến bộ lịch sử. Một sự phản bác mà chỉ có thể gọi là sự phá hủy thôi.


Thứ hai: Vận may của chủ thể lịch sử, tức là của tập thể nhân loại trong thế kỷ XX. Rất ít khi các dân tộc và các cá nhân phải chịu bao đau khổ như ở thế kỷ này: hai cuộc chiến tranh thế giới, các thể chế chuyên chế được thiết lập trên cả năm châu lục, bom nguyên tử cuối cùng là sự lan truyền của trại tập trung, một trong những công cụ tàn bạo và chết người nhất mà loài người được biết tới. Những đóng góp to lớn của kỹ thuật là không thể kể hết nhưng cũng không thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh giết chóc, tra tấn, trước sỉ nhục và hạ cấp con người và mốt số tổn thương khác từng khiến hàng triệu người vô tội phải chịu đựng trong thế kỷ chúng ta.


Thứ ba: Niềm tin trong sự tiến bộ cần thiết. Đối với cha ông chúng ta những đổ nát của lịch sử - hài cốt, chiến trường hoang phế, thành phố đổ nát - không từ chối lòng tốt căn bản của quá trình lịch sử. Trường bắn và chế độ độc tài, chiến tranh và sự bạo liệt của các cuộc đấu tranh dân sự là cái giá của sự tiến bộ, là đồng tiền bằng máu phải trả cho Thượng đế của lịch sử. Một Thượng đế ư? Phải, một Thượng đế, đó chính là lý lẽ được thần thánh hóa và phong phú, theo như Hegel nói. Lý trí vờ vĩnh của lịch sử đã bị bốc hơi. Trong chính sự thống trị của trật tự, bình ổn, hợp tác - trong các khoa học chính xác và trong vật lý học - đã xuất hiện trở lại vài quan niệm xưa cũ về tai biết và thảm họa. Sự nổi loạn rùng rợn khiến tôi nghĩ đến những nỗi kinh hoàng của năm một ngàn và những đau đớn của người Azteca vào cuối mỗi chu kỳ vũ trụ của họ.


Để kết thúc tôi xin nói về: sự đổ nát của tất cả những giả định triết học và lịch sử từng mưu toan sự hiểu biết các quy luật của sự phát triển lịch sử. Những môn đệ của chúng, những người tin rằng họ là chủ nhân những chìa khóa lịch sử, đã xây dựng những Nhà nước hùng cường trên những kim tự tháp xác người. Những xây dựng kiêu ngạo ấy, được mệnh danh là để giải phóng con người, đã nhanh chóng biến thành các trại giam khổng lồ. Hôm nay chúng ta đã thấy chúng đổ sụp. Không phải những kẻ thù tư tưởng mà chính là sự mệt mỏi và khát vọng tự do của các thế hệ mới đã lật đổ chúng. Phải chăng đó là cái kết chung cục của các lý thuyết không tưởng? Đúng hơn đó là cái kết cục của tư tưởng lịch sử như là một hiện tượng mà sự phát triển của nó được người ta hiểu rất rõ. Thuyết quyết định lịch sử đã là một bóng ma đẫm máu và đắt giá. Lịch sử là không thể được nhìn rõ vì chủ thể của nó, con người: là sự không quyết định trong tính cách rồi.

Nhà thơ người Mexico Octavio Paz
Sự ôn lại này cho thấy rằng rất có thể chúng ta đang ở vào giữa ngày chung cục của một giai đoạn lịch sử và ngày khởi thủy của một giai đoạn khác. Kết cục hay là sự thay đổi của Thời Hiện Đại? Thật khó lòng mà biết được. Tóm lại, sự sụp đổ các học thuyết không tưởng đã để lại một khoảng trống lớn không chỉ ở những nước mà tư tưởng đó đã được thử nghiệm và bị thất bại mà còn có ở những nơi khác từng có rất nhiều người tràn đầy nhiệt tình và hy vọng đón chào nó. Lần đầu tiên trong lịch sử con người được sống dưới một vận may của bầu trời tinh thần phong quang và không như trước sống dưới bóng tối của những thiết chế tôn giáo và chính trị vừa áp chế vừa an ủi chúng ta. Các xã hội là lịch sử nhưng không phải tất cả mọi xã hội đều được dắt dẫn bởi một tập hợp các niềm tin tôn giá và các tư tưởng metahistorie. Xã hội chúng ta là xã hội đầu tiên đã được chuẩn bị để sống mà không cần có một học thuyết hậu metahistorie. Những giá trị tuyệt đối của chúng ta - tôn giá và triết học, nhân chủng học và thẩm mỹ học không còn là của tập thể mà là của cá thể. Kinh nghiệm là nguy hiểm.  Không thể biết nếu như các mối căng thẳng và mâu thuẫn của sự tư nhân hóa các tư tưởng, các kinh nghiệm, các niềm tin tôn giáo này, những thứ vốn thuộc về đời sống cộng đồng một cách truyền thống, trước đây liệu có làm tan vỡ tổ chức xã hội không. Lại một lần nữa con người sẽ có thể bị sở hữu bởi những cơn cuồng nộ tôn giáo xưa cũ, và của những kẻ cuồng tín dân tộc. Sẽ là khủng khiếp khi biết rằng sự sụp đổ của thần tượng trừu tượng của hệ tư tưởng sẽ là dự báo trước cho sự nổi dậy của các đam mê trong các bộ tộc, các bè đảng và các nhà thờ đã từng bị chôn vùi. Thật là bất hạnh, các dấu hiệu thẩy đều không yên lòng.

Nhà thơ Octavio Paz thời trẻ
Sự sụp đô của các hệ tư tưởng mà tội gọi là metahistorie (tức là những hệ tư tưởng đã chỉ ra một chung cục và một hướng đi tới cho lịch sử), bao gồm cả sự rời bỏ thầm lặng của những giải pháp toàn bộ. Chúng ta cứ cúi đầu thêm nữa, và thêm nữa với cảm giác tốt đẹp, trước những cách thức hạn hẹp để giải quyết những vấn đề chung. Việc thiết lập tương lai phải cẩn trọng. Nhưng thời hiện tại đòi hỏi không chỉ quan tâm đến những yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn đòi hỏi chúng ta một suy nghĩ toàn diện và hữu hiệu hơn. Đã từ lâu tôi tin và tôi càng tin mạnh mẽ hơn rằng buổi hoàng hôn của tương lai đã tuyên xưng sự hiện diện của ngày hôm nay. Nghĩ ngày hôm nay có nghĩa trước hết là khôi phục lại cái nhìn phê phán. ví dụ thắng lợi của kinh tế thị trường - một thắng lợi đã tạo ra sự vắng mặt đối phương - không thể là lý do duy nhất để mừng vui. Thị trường là một thủ pháp hữu hiệu, nhưng cũng như tất cả mọi thủ pháp (mecanismo) nó không có lương tri và lòng thương hại. Cần tìm ra phương pháp đưa nó vào xã hội để nó là sự biểu hiện của khế ước xã hội và là một công cụ công lý và công bằng. Các xã hội dân chủ phát triển và đã đạt tới một sự thịnh vượng đáng được mơ ước, cũng vì vậy chúng là các đảo giầu có giữa đại dương nghèo đói toàn cầu. Chủ đề về thị trường có một mối quan hệ rất chặt chẽ với sự độc hại của môi trường. Ô nhiễm không chỉ đầu độc bầu không khí, đầu độc các dòng sông, các cánh rừng mà còn đầu độc tâm hồn. Một xã hội bị thống trị của sự cuồng say nhằm sản xuất nhiều hơn nữa để tiêu thụ nhiều hơn nữa càng có khuynh hướng biến tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tình bạn, tình yêu và cả chính con người thành các đồ vật tiêu thụ. Tất cả rồi lại trở về đồ vật mà người ta mua, người ta xài và người ta ném vào sọt rác. Không một xã hội nào đã sản xuất ra nhiều đồ thải đi như  xã hội chúng ta. Những đồ thải vật chất bị thải đi và những đồ thải đạo đức bị thải đi.
Sự suy nghĩ bây giờ không loại bỏ tương lai cũng không quên quá khứ: thời hiện tại là địa điểm gặp gỡ của ba thời gian. Cũng không thể nhầm lẫn với một thứ chủ nghĩa khoái lạc dễ dãi. Cây khoái lạc không sinh trưởng trong thời quá khứ hay thời tương lai mà ngay trong chính thời hiện tại. Cái chết cũng là một tương lai của thời hiện tại. Chúng ta không thể từ chối cái chết vì nó là một phần của cuộc sống. Sống đẹp đòi hỏi phải chết đẹp. Chúng ta phải học để nhìn thẳng vào cái chết. Sáng và tối, tối và sáng liên tục thay đổi cho nhau, đó là thời hiện tại. Thời hiện tại là một hành tinh đã thống nhất hai mặt đó lại, đã thống nhất hành động và chiêm quan. Như vậy chúng ta có triết lý về thời quá khứ và thời hiện tại, về cái vĩnh hằng và cái hư vô, ngày mai chúng ta sẽ có một triết lý về thời hiện tại. Kinh nghiệm thơ ca có thể là mọt trong những cuộc sống của triết lý đó. Chúng ta hiểu gì về thời hiện tại? Chẳng hiểu gì hay gần như chẳng hiểu biết  gì. Nhưng các thi sĩ lại hiểu một cái gì đó: thời hiện tại là ngọn nguồn của những sự hiện hữu.

Nhiều lần tôi đánh mất mình và tìm lại thấy mình trong cuộc phiêu lưu đi tìm cái Hiện Đại. Tôi trở về cội nguồn của mình và tôi thấy rằng cái hiện đại không ở ngoài mà ở trong chính chúng ta. Nó là ngày hôm nay đồng thời là thời cổ đại nhất, nó là ngày mai và là ngày bắt đầu của thế giới, nó có ngàn tuổi nhưng lại vừa mới chào đời. Nó nói bằng ngôn ngữ Náhuatl, viết chữ Hán tượng hình từ thế kỉ IX và xuất hiện trên màn ảnh nhỏ. Thời hiện tại mới tinh khôi. Vừa mới được đào lên khỏi lòng đất, gĩ đi bụi bặm nhiều thế kỷ, nó mỉm cười và ngay lập tức qua cửa sổ nó biến mất. Thờ hiện tại là sự đồng thời cùng một lúc vừa là các thời đại và vừa là các hiện diện. Cái hiện đại phá vỡ quá khứ tức thời chỉ là để giữ lại cái quá khứ ngàn năm. Và trở thành một hình ảnh trù mặt của thời đồ đá mới trong thời hiện tại của chúng ta. Chúng ta truy tìm cái hiện đại trong những ẩn dụ không cạn kiệt của nó và không bao giờ chúng ta tóm được nó. Nó luôn luôn chuồn mất, mỗi lần gặp gỡ là một lần nó chạy trốn. Chúng ta vừa ôm được nó và ngay lập tức nó biến mất, hóa ra chỉ là một ít không khí. Cái hiện đại là khoảnh khắc, là con chim có mặt ở mọi nơi và không ở một nơi nào. Thời hiện tại tựa như một cá gì đó được bọc bởi một nhúm âm tiết. Chúng ta muốn giương cao nó lên một cách sống động nhưng nó vỗ cánh rồi biến mất tăm. Chúng ta còn lại hai bàn tay trắng. Thế là ngay lúc đó những cánh cửa của sự thụ cảm hé mở và ló ra cái thời khác, thời chân thực, thời mà chúng ta đi tìm mà không biết: đó là thời hiện tại, sự hiện diện.

Những bậc thầy văn chương - Lê Huy Hòa-Nguyễn Văn Bình (biên soạn) - Nhà xuất bản Lao Động

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Miguel Asturias

Nếu anh viết truyện chỉ để giải trí thì hãy đốt chúng đi! Hãy thành kính nghe thông điệp này, vì nếu anh không đốt thì truyện của anh cũng sẽ bị xóa bỏ trong kí ức của nhân dân, nơi mà các nhà thơ nhà văn đều mong có chỗ cho mình. Hãy thử tưởng tượng xem, xưa nay có bao nhiêu người đã viết để giải trí! Bây giờ còn ai nhớ đến họ nữa? Ngược lại, thật là dễ dàng nhắc lại tên của những người trong số chúng ta đã viết để làm chứng nhân. - M. Asturias


Nhà văn Guatemala Miguel Ángel Asturias
Giải Nobel văn chương năm 1967


Miguel Asturias sinh tại thủ đô Guatemala, trong một gia đình tri thức. Ông là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà ngoại giao nổi tiếng người Guatemala, tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ: Ngài tổng thống (The President, 1946). Ông được xem là người góp phần quan trọng trong việc đưa văn học Mĩ Latin vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Suốt cuộc đời, Asturias gần như phải sống lưu vong ở nước ngoài vì ông luôn bất hòa và cực lực phản đối các thế hệ độc tài ở Tổ quốc mình.

Asurias là con của luật sư Ernesto Asturias, một người mang tư tưởng nhân văn tiến bộ. Mẹ ông là một giáo viên. Do bất đồng với tổng thống đương nhiệm Estrada Cabrera, nên Ernesto từ chức công chứng viên và đưa gia đình về sống ở Salamá, nơi có trang viên của gia đình đằng nội. Salamá là vùng đất thơ mộng, đầy ắp những câu chuyện thần thoại, cổ tích. Miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn văn nhân của Asturias ngay thuở thiếu thời.

Lên chín tuổi, 
Asurias  cùng cha mẹ trở lại sinh sống tại ngoại ô thủ đô. Bố Asurias  hành nghề nhập khẩu đường và bột. Thuở bé, Asurias  được chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm của gia đình và xã hội.

Năm 1917, 
Asurias  vào đại học. Ông theo học ngành y một năm, sau đó chuyển sang nghiên cứu luật. Với tư cách là đại diện cho Hiệp Hội Sinh viên các trường đại học, ông đến Honduras và El Salvador. Năm 1921, Asurias  được cử làm một trong những phát ngôn viên của Guatemala đến Mexico dự Hội nghị sinh viên quốc tế.

Năm 1923, 
Asurias  nhận bằng cử nhân luật tại Đại học San Carlos. Ông sang châu Âu để tiếp tục sự nghiệp học tập, nghiên cứu. Mặc dù ước muốn của cha ông là hướng ông theo ngành kinh tế nhưng Asurias  lại theo học ngành nhân chủng học dưới sự dạy dỗ của Georges Raymond tại đại học Sorbonne ở Paris từ năm 1923 đến 1928. Thời gian nàyAsurias  bắt đầu dịch các tác phẩm của người Maya sang tiếng Pháp. Asurias  rất yêu thích và am hiểu văn hóa Maya. Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của nền văn học này sang tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh việc dịch thuật, ông còn sáng tác thơ và truyện. Tác phẩm của ông thường phản phất chất hư ảo, huyền hoặc của nền văn hóa Maya. Asurias  sống ở Paris suốt mười năm.

Năm 1930, danh tiếng đến với 
Asurias  khi ông cho xuất bản cuốn Truyền thuyết Guatemala (Legends of Guatemala). Cuốn sách được ông kể lại dựa trên các truyền thuyết của người Maya cổ. Đây là những truyện cổ mang tính hoang đường, được viết theo lối thơ trữ tình Tây Ban Nha. Ba năm sau, Asurias hoàn thành cuốn Ngài tổng thống. Cuốn sách dẫu không được in do chủ đề kẻ độc tài Mĩ Latin được ông thể hiện tài tình, sắc nét nhưng nó vẫn được bí mật lưu truyền trong giới trí thức suốt 13 năm cho đến khi ra đời (năm 1946). Cuốn sách tái hiện sự hối lộ, tham nhũng lan tràn khắp đất nước. Cái ác, cái xấ hoành hành. Cánh sĩ quan quân đội thì suốt ngày chui đầu vào các nhà chứa hoặc hoạch định các âm mưu nham hiểm... Asurias đã hư cấ tội ác của chế độ độc tài đến mức huyền thoại.

Trở về Guatemala vào năm 1933, Asturias làm phóng viên cho một hãng truyền thanh. Những năm 1940, ông bước vào sự nghiệp ngoại giao và sống ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ năm 1945 - 1947, ông giữ nhiều chức vụ ngoại giao ở Mexico. Từ năm 1947 - 1952, 
Asturias ở Buenos Aires. Từ 1952 - 1953 ông sống ở Paris. Một năm sau, ông làm đại sứ tại El Salvador. Năm 1950, Asturias li dị người vợ đầu Clemencia Amado và cưới Blanche de Mora y Aruaho. Công việc ngoại giao của Asturias bị gián đoạn khi phe cánh hữu của Carlos Armas lên nắm chính quyền vào năm 1954, ông phải lưu vong ra nước ngoài.

Năm 1949, tác phẩm Người ngô (Men of Maize) của 
Asturias được in. Cuốn sách cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa ông với truyền thống văn hóa Maya cổ đại. Maize, tiếng Tây Ban Nha maiz có nghĩa là ngô, chất liệu để Thượng đế khai sinh ra con người trong thần thoại Maya. Tác phẩm miêu tả cuộc nổi dậy của một bộ lạc da đỏ trong bầu không khí huyền ảo, ma thuật của người da đỏ.

Được xem là một trong những kiệt tác của 
Asturias, Người ngô được cấu trúc gồm sáu phần. Mỗi phần khai thác một khía cạnh tương phản trong tập quán của người da đỏ với xã hội đang hiện đại hóa và phát triển nhanh. Cuốn tiểu thuyết khám phá thế giới huyền ảo của các cộng đồng bản địa. Đề tài mà Asturias rất đam mê và nắm chắc. Nội dung sách tập trung vào cuộc nổi dậy của một bộ tộc da đỏ sinh sống nơi vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở và đang đối đầu với nguy cơ bị quân đội chính phủ xóa sổ. Cốt truyện xoay quanh cộng đồng người ngô đó nơi đất đai của họ có nguy cơ bị tàn phá. Phần hai của cuốn tiểu thuyết tái hiện một khung cảnh khác thông qua việc giới thiệu nhiều nhân vật mới. Thế hệ người da đỏ tiếp theo tiếp xúc với các bậc tiên tổ trong quá khứ và họ đã đi đến quyết định nỗ lực tranh đấu để duy trì truyền thống của tổ tiên họ.

Câu chuyện bộc lộ thái độ phê phán của 
Asturias trước việc chủ nghĩa đế quốc phương Tây có thói quen thống trị và cưỡng bức các nền văn hóa Mĩ Latin và nhiều nơi khác trên thế giới đi theo văn hóa của mình. Asturias sử dụng sự hiểu biết rộng rãi của mình về văn học để kể câu chuyện dưới hình thức thần kì. Với cách tái hiện cuộc sống độc đáo đó nên ngay khi ra đời, các nhà phê bình không tỏ ra mặn mà lắm về nó.

Những năm 1950, 
Asturias bắt tay vào sáng tác tác phẩm Bộ ba Chuối (The Banana Triology), bao gồm: Dông tố (The Cyclone, 1950), Giáo Hoàng xanh (The Green Pope, 1954) và Mắt người đã khuất (The eyes of the Interred, 1960) tố cáo tội ác của Công ti hoa quả Hoa Kỳ. Năm  1956, ông cho in tập truyện ngắn Cuối tuần ở Guatemala (Weekend in Guatemala) đề cập đến sự can thiệp của Hoa Kì trong việc lật đổ chính phủ Arbenz năm 1954. Sau biến cố lịch sử này, ông sống ở Chile rồi sang Brazil làm phóng viên cho tờ Quốc gia của Venezuela. Năm 1966, tổng thống Julio Mendez lên nắm quyền, Asturias được cử làm đại sứ ở Pháp.
Những năm cuối đời, Asturias sống ở Madrid. Ông chết khi đang đi thỉnh giảng vào ngày 9-6-1974. Thi hài ông được mai táng ở nghĩa trang Cha Lachaise. Với tất cả những đóng góp to lớn cho dân tộc và cho nhân loại, Asturias được trao tặng giải thưởng Lê-nin về hòa bình vào năm 1966 và giải Nobel văn chương năm 1967.

Sau khi nhà văn qua đời, chính phủ Guatemala thành lập giải thưởng văn học mang tên Miguel Angel Asturias. Tên ông cũng được lấy đặt cho hai nhà hát quốc gia của Guatemal. Nhân loại nhớ đến ông với tư cách là người có niềm tin vĩnh hằng vào sự bất tử của văn hóa bản địa ở Guatemala. Văn học Mĩ Latin ghi nhận vị trí mở đường của ông cho nền văn chương khu vực.

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & Gabriel García Márquez - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Le Clézio

"Cả thiên hạ đều ngây thơ" - Le Clézio
Tôi chưa hề biết chút gì về nhà văn Pháp này ngoại trừ điều đáng chú ý nhất là ông được vinh danh giải Nobel văn chương năm 2008. Khi ấy tôi khá trẻ, sự quan tâm văn học không rõ rệt như bây giờ. Phải nói là tôi trưởng thành muộn trong nhận thức văn học, một điều rất đáng tiếc. Giờ đây, tôi không còn thành kiến với Nobel văn chương nữa, tôi sẽ đọc những nhà văn đạt giải đó với sự thèm khát văn chương của mình. Vậy là tôi đã mua về một quyển tiểu thuyết của Le Clézio, mới in đây thôi. Tiện dịp một người bạn đưa cho đọc một quyển chân dung các nhà văn của Hà Vinh và Vương Trí Nhàn, gõ lại vào máy tính để về sau dễ tham khảo.

Le Clézio và hành trình tìm kiếm bản sắc
Trong số mấy chục tác phẩm của ông, có đến 22 tác phẩm in ra từ NXB Gallimard. Sau Procès-Verbal đoạt giải Renaudot, các tác phẩm Désert (Sa mạc) năm 1980 và Mondo et Autres Histoires (Mondo và những truyện khác) (1978) được in ra 5 vạn bản. Có 5 tác phẩm vượt qua con số 30 vạn bản.


"Chắc là hắn ta lạc lối trong hành lang rồi!" họ đoán vậy. Nhưng ngôi nhà xuất bản này ở Paris thì Jean Marie Gustave Le Clézio chẳng lạ lẫm gì. Năm 1963, những bức tường nhà xuất bản Gallimard đã vang lên tiếng nổ của thiên tiểu thuyết đầu tay của Le Clézio. Giải Renaudot trao cho tác giả cuốn Procès-Verbal (Biên bản) khi mới 23 tuổi.

Con người được hâm mộ từ thập kỉ 60 đó bây giờ đã ra sao? Với cách ăn mặc tuềnh toàng, mái tóc sáng cắt ngắn và cặp mắt thiên thần xứ Flandre, người ta có cảm giác Le Clézio không hề thay đổi. Chính ông từng nói: "Cho đến năm 30 tuổi, người ta vẫn còn là vị thành niên".


Nhà văn có một vị trí đáng kính trong văn học không lây nhiễm không khí thời đại. Le Clézio vẫn cứ là chàng trai tóc vàng không suy suyển, người thả mình theo những mộng mơ trên bờ các đại dương, vượt qua những hoang mạc để tìm kiếm một chân trời luôn luôn lẩn trốn, một dấu chân mơ hồ từng in lên mặt cát của những bộ lạc đã tiêu vong, những dân du cư lang thang từ Mexico đến Panama, hay từ hòn đảo Maurice đến Maroc. Dưới cái vẻ ngoài khắc khổ, con người này vẫn đầy nét thanh xuân, giữ tính giản dị và hồn nhiên của tuổi trẻ và cả cuộc sống phiêu bạt để thỏa mãn niềm khao khát tự do như một cánh chim trời.

Le Clézio đã trôi nổi với những chuyến viễn du kéo dài: 10 năm ở Mexico và cũng chừng ấy năm ở Mỹ. Cắm neo ở Albuquerque ở New Mexico, nhưng ông không hề bỏ ý tưởng tiếp tục cuộc hành trình của một chàng trai Robinson: quay về hòn đảo Maurice, mảnh đất cội nguồn của gia đình, rồi Ấn Độ và cả Úc. Đấy là một nhà văn của sự chuyển tiếp, của xê dịch, không ở chỗ này cũng không ở chỗ kia, của mảnh đất không người, chập chờn ẩn hiện như một bóng ma.


Cái ưu thế của bóng ma là nó không già đi với năm tháng mà nó trải qua. Le Clézio, với những cuộc săn tìm ngược dòng đời, một cách nào đó cũng là một bóng ma.


Nhưng Le Clézio cũng thú nhận: "Lúc nào cũng chuyển dịch. Việc đó không dễ dàng chút nào đối với những đứa con gái của tôi. Đứa đầu đang theo học ở Paris".


Phải chăng đấy cũng là vết thương của một người không ngừng tố cáo văn minh thành thị? Quả là thế, nhưng đối với ông, cái hình mẫu Pháp chưa đến nỗi là cái tệ hại nhất trong mô hình tồn tại. Con người xa xứ này thú nhận: "Tôi thiếu vắng âm thanh tiếng mẹ đẻ. Khi về đây, tôi thích thú tìm thấy lại sự vang vọng văn hóa đặc trưng của nước Pháp".


Vợ ông, Jemia, là hậu duệ của một tộc người du cư Aroussiyines. Cách đây 2 năm, hai người đã đặt chân đến thung lũng Sông Đỏ ở miền Nam Maroc - mảnh đất của tổ tiên bà. Mớ bòng bong về gốc gác chồng chéo nhau và những sự lai giống đó, Le Clézio đã không ngừng mày mò để gỡ cho ra đầu dây mối nhợ. Cha ông là người dân đảo Maurice (giữa Ấn Độ Dương) và mẹ là người Pháp. Ông kể lại: "Tuổi niên thiếu của tôi đã trôi qua không dễ dàng. Tôi trải qua khủng hoảng về bản sắc và khó khăn khi chấp nhận những người khác. Tôi ít nói".


Thế nhưng ông lại hay viết. Vào tuổi lên 7, trên chiếc tàu chở đến Nigieria để gặp gỡ cha mình, Le Clézio đã sửa chữa mẩu ký đầu tiên đầu đề là Một chuyến đi dài
. 52 năm sau, với hơn 25 tiểu thuyết (không kể những cuốn sách viết cho thiếu nhi và những truyện tranh), Le Clézio vẫn không bỏ bút.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất Hasard (Ngẫu nhiên) in cùng với một truyện ngắn khác Angoli Mala viết trước đó 15 năm, như muốn chỉ ra cho những người trách móc ông đã thay đổi, rằng ông vẫn thế thôi. Tuy truyện Hasard
có phần lạc quan hơn và hai truyện này khi mới đọc có vẻ thật xa lạ với nhau, nhưng về cơ bản vẫn cùng một thứ nhạc điệu ấy, một thứ âm nhạc của Fugue và đối điểm của nó, những nẻo đường phiêu du từng quen thuộc với người đọc.

Lần này là Nassima. Từ bến càng Villefranche, cô gái này đã hóa trang thành con trai lên xuống chiếc thuyền buồm của Juan Moguer, một đạo diễn hết thời, để vượt Đại Tây Dương đến tận thế giới bên kia, hy vọng tìm lại gốc gác của mình và những kỷ niệm của người cha, một thầy thuốc quần đảo Antilles đã mất tích không để lại địa chỉ. Cái mà nhân vật nữ này "ngẫu nhiên" phát hiện ra sau khi người ta mở khoang thuyền nơi cô ẩn nấp là sự huy hoàng tinh khôi của biển cả, giống như một khải thị. Thực tế đó không phải là cách đích của chuyến đi mà chính là cuộc hành trình.


Còn Angoli Mala thì nói lên một bài học khác, kể lại sự trở về xứ sở của một chàng trai da đỏ do một mục sư Mỹ da đen nuôi dạy ở Panama. Rồi cái mà anh ta tìm thấy không phải là vẻ huy hoàng của nguồn cội được tưởng tượng và những huyền thoại về nó, mà là một lớp người bị rượu chè hành hạ và sống trong cảnh đói khổ tối tăm của kiếp nô lệ. Đối với anh, phải làm một chuyến đi thực sự, trong thế giới nội tâm, để tìm kiếm sự bình an và khuây khỏa trong sự trống vắng. Và đây là một hành trình đau xót và huy hoàng hướng đến cái câu hỏi vĩnh hằng, câu hỏi mà chỉ những nhà hiền triết, dửng dưng trước những bọt bèo và những tháng năm, mới có gan đặt ra: Con người tồn tại để được cái tích sự gì?


Con người lưu đãng này đã gặp Nassima nàng thơ của mình ở Panama trong những năm 70, vào dịp ông sống với người Mỹ da đỏ ở châu Mỹ. Le Clézio nói: "Đấy là sự lai giống giữa người da đỏ và da đen sống ngoài lề hai cộng đồng người. Đối với tôi, việc này trở thành một nguyên mẫu, một loại phụ nữ lẫn trốn, thuộc những nền văn hóa khác nhau. Tôi không tin là Eva chỉ có một nguồn gốc. Cuối cùng có thể là tôi muốn miêu tả về Eva (thủy tổ loài người)". Và ông cười về sự táo tợn của mình. Cái đẹp nguyên sơ, sự hoài nhớ khôn nguôi về một thế giới, một di sản đã mất đi - thiên truyện Hasard của ông dẫn người đọc đến với những cái đó như một nỗi ám ảnh. Nếu trong Hasard, văn phong của ông vẫn trần trụi, tinh lọc chính là để làm tôn lên vẻ đẹp của cái "không có tên, không dấu vết, không thuộc về ai, không có lịch sử và bao giờ cũng mới mẻ". Đó là đại dương.

Le Clézio nói: "Tôi có sự gắn bó cơ thể với biển cả. Trí tuệ tôi không cho phép tôi trở thành một thủy thủ. Hơn nữa tôi cũng không chắc mình có thể chịu đựng nổi công việc lao dịch của một hoa tiêu, của thói ma cũ bắt nạt ma mới và tinh thần hợp tác. Tôi không có tàu. Nhưng từ trực giác tôi tin rằng sự gắn bó đó có thể xâm chiếm con người tôi".

Vào tuổi 59, với một ý thức thường trực  gần như ngoan cố, Le Clézio đã không ngừng mong mỏi thoát ra khỏi những ràng buộc của cuộc đời. Ông chạy trốn. Ông tìm tòi cách làm thế nào đưa những cái cốt lõi vào cuộc sống thường nhật, bất kể những gì đã xâm chiếm ông, khiến ông trở thành một kẻ mộng mơ hiền lành, một kẻ "dã man vô hại" hay một nhà sinh thái học ngây thơ.

Le Clézio nói: "Cả thiên hạ đều ngây thơ. Đấy là sự ngây thơ tin vào sự tiến bộ, ngây thơ tin vào sự mới mẻ của nghệ thuật, ngây thơ tin vào Chúa Trời. Lúc 30 tuổi, tôi cảm thấy người ta đang đứng trước sự kết thúc một cái gì đó. Thực tế, đấy là sự kết thúc của thế giới chúng ta. Với tuổi tác, tôi đã tìm lại con người mình. Tôi trở nên ít bi quan hơn".

Ông còn muốn tin vào cái điều rằng: "tinh thần thanh xuân có thể cứu vớt thế giới".

Quả tình, thường người ta bỏ đi để rồi trở lại với cái cốt lõi nhất.

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

Xem thêm về Le Clézio:


http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Van-hoc/286873/Jean---Marie-Gustave-Le-Clezio-Khong-co-nhung-bien-gioi.html


http://vienvanhoc.org.vn/reader/?id=753&menu=74&s=Le+Cl%C3%A9zio

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=672

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=7704