Hiển thị các bài đăng có nhãn cái hiện đại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cái hiện đại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

John Updike


Cây bút về đời sống Mỹ hiện đại

Người hầu bàn hỏi John Updike cần thứ thức uống nào? Với bao nhiêu nhà văn lớn của nước Mỹ trước đây và bây giờ, câu trả lời – vào lúc 4 giờ chiều – thường giống như đặt bữa tiệc Giáng sinh của hãng IBM cho quầy rượu. Nhưng John Updike chọn dùng trà. Cùng lúc đó, từ một chiếc bàn bên cạnh, người ta hỏi nhau: “Có phải John Updike đấy không nhỉ?” Sự trùng hợp này làm người ta nghĩ đến sự nổi tiếng và sự tàn tạ, những hình phạt của thành tựu văn học ở Mỹ. Các nhà phê bình, đặc biệt là người Anh, hay viết về những áp lực đặc biệt đối với các tác giả Mỹ: một sản phẩm của cường độ chung về văn hóa và sự khát khao của một đất nước về một nền văn hóa có bản sắc. Người ta có thể thống kê về nạn nghiện rượu, tự tử, suy sụp thần kinh, những bài diễn thuyết điên cuồng, về những vụ tranh cử…
Tại bữa trà này, một nhà phê bình văn học, Mark Lawson hỏi Updike: “Xem ra anh còn tỉnh để có thể tránh đi được cái bẫy đó”.
“Phải rồi”, Updike đáp, chặc lưỡi, “Tôi vẫn còn sống nhăn răng”.
“Và mắn đẻ nữa chứ”. Lawson tiếp. Đấy là cách nói nhún. Knoff, nhà xuất bản của Updike, vừa rồi đã phải thu nhỏ lại khổ chữ của trang giới thiệu tác phẩm cùng một tác giả trên sách của ông để có thêm chỗ cho tác phẩm mới. Đến nay không kể truyện viết cho thiếu nhi, tất cả là 36 cuốn gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, khảo luận và hồi ký. Cuốn thứ 37, Hồi ức về chính quyền Ford (một cái tên sách tư liệu ngụy trang cho cuốn tiểu thuyết thứ 15 của ông) xuất bản vào cuối tháng 3-1993.
Updike bình phẩm: “Quả thỏa đáng khi nói là tôi đã ý thức được về tình trạng ốm yếu của bao nhiêu nhà văn trước tôi. Về mặt lịch sử mà xét, rất hiếm những nhà văn không bị rệu rã từ tuổi 35. Do một số lý do. Trước hết, Mỹ là một xứ sở tôn vinh cái trẻ trung. Người ta có thể thấy rất rõ trong trường hợp Hemingway. Viết trước hết từ sức sống trẻ trung, về một thế giới ngây thơ vẫn mang những hạt sương mai. Nhưng đến lúc sương tan, thì cả tác giả lẫn độc giả đều có thể trở nên chua chát”.
Vẻ măt của Updike bao giờ cũng ánh lên sự nhanh nhạy, hóm hỉnh. Bởi thế, vào tuổi 60, nhà văn Mỹ này có cặp mắt vẫn còn ướt át. Độc giả của ông cũng thế: như thể để chứng minh rằng ngòi bút của ông không chịu tuân theo cái biểu đồ mà ông vừa nói – Updike đã nhận hai giải Pulitzer vào tuổi 50 và 59.
Hầu bàn mang trà tới. Như chơi vĩ cầm với dụng cụ dùng trà, ông tiếp tục: “Thế hệ ấy, hầu hết đối với nam giới họ uống quá nhiều. Đặc biệt là Faulkner, gây ấn tượng mạnh là Hemingway, còn Fitzgerald thì vô hồi kỳ trận..”. Khi nói, cũng giống như khi viết, một dấu ấn mang phong cách Updike là việc chọn và đặt vị trí của trạng từ và tính từ: một sự hòa trộn và chọn lọc sinh động và đầy nhịp điệu. “Bản thân tôi, tôi cho thật là vui khi tìm thấy cách kéo dài năng lực mình như Henry James đã làm. Từ 35 năm trước, tôi đã bắt đầu nghề nghiệp của mình giống như một nha sĩ hành nghề, có mặt nơi làm việc hàng ngày và đúng giờ giấc”.
Trong vòng 15 năm qua, ngày nào ông cũng viết ít nhất là 1.000 từ. Còn việc chọn thức uống cũng là có lý do của nó: sức khỏe của ông cần kiêng rượu vì bệnh suyễn và kiêng cà phê vì huyết áp cao. Như một hoán dụ, sở dĩ Updike cần phải uống trà vì như ông nói: “Hemingway đối với tôi là một nhà văn xuất sắc của Mỹ trong thế kỷ XX. Văn phong của ông là cái mà chúng ta mơ ước. Nhưng sai lầm của ông mà ta có thể rút ra là: sự cạn kiệt quá sớm, sự lạm dụng sức khỏe của mình, sự liều lĩnh trong cuộc sống cá nhân, và sự lo sợ viết về cái mà ta có thể gọi là đời thường. Ông đã tìm mọi cách để tránh những đề tài về cuộc sống hàng ngày của người dân Mỹ. Còn tôi thì lại bằng mọi cách lặn ngụp trong đó…”
Trên biểu đồ sự nghiệp của sự nghiệp John Updike, trước tiên người ta coi ông là một nhà thơ viết văn xuôi, tiếp đó là một nhà văn đi sâu vào tình dục, và gần đây nhất là một người ghi chép lịch sử hiện đại Mỹ.
Sinh năm 1932 tại Pennsylvania từ một gia đình gốc Hà Lan, cha ông là một giáo học, còn mẹ là một nhà văn hạng hai. John Updike là con một, còn Pennsylvania là một bang lúc đó mang tính chất thôn dã lỗi thời.
Hết phổ thông, Updike trở thành họa sĩ biếm họa, sau đó làm cho tờ New Yorker và viết hàng loạt truyện ngắn và tiếp đó cho ra đời tác phẩm Thỏ, chạy đi (Rabbit, run) (1960).
Tác phẩm này kể lại giai đoạn gieo neo về đời sống hôn nhân năm 1959 của Harry “Rabbit” Angstrom, một dân gốc Hà Lan lì xì ở Pennsylvania, là một người mà thời hoàng kim là ngôi sao bóng rổ tại một trường cao đẳng thời trẻ. Sau đó cứ 10 năm Updike lại trở lại với Rabbit: Rabbit trở lại (1971), Rabbit giàu có (1981) và Rabbit yên nghỉ (1990). Những truyện này chen nhau những cảnh ngộ của cuộc sống gia đình: lúc đi tắm, vợ Harry dìm chết đứa con gái trong những tình huống khả nghi, khả năng về một cô bồ đã đẻ cho ông ta một đứa con bất hợp pháp. Sự kiện và tâm trạng của người Mỹ trong 4 thập kỷ - các vị tổng thống, chiến tranh, những quan hệ tình dục, các thời thượng văn hóa. Tất cả cuốn lại với nhau như những dòng thời sự do một nhà thơ viết ra.
Vào giữa hai tập đầu, Updike đã tạo ra một sự nổi danh khác: một nhà văn lang thang về tình dục. Những cặp vợ chồng (1969) nói về quan hệ bộ tam, bộ tứ dưới thời Kennedy – và vì thế người ta mệnh danh ông là nhà văn “porno” về hôn nhân, dưới cách viết bóng bẩy. Chính vì thế, lời kết tội thực sự đối với Updike là giọng văn “chải chuốt đáng ngờ”. Trước tiên là do những câu văn đầy cá tính của ông ánh lên bằng những tính từ và những hình ảnh khiến chúng trở nên kiêu sa về hình thức hơn là hàm chứa về nội dung. Người ta cũng còn cho văn ông là quá trau chuốt.
John Updike, thường được ví như nhà văn De Sade về hôn nhân và nhà văn Carlyle về tình trạng suy thoái của Mỹ. Ông có một cảm quan đặc biệt thính nhạy. Mà quả tình, chứng khịt mũi của ông do bệnh suyễn hay cố tình làm cho chiếc mũi đẹp của ông cứ run rẩy khiến người ta cứ liên tưởng tới một cần ăng ten hay một chú thỏ. Với những chi tiết sinh động trong tác phẩm của ông, người ta có cái ấn tượng là đầu óc ông thường xuyên tiếp nhận các dữ kiện. Cái cảm giác về một nhà văn không bao giờ rời bỏ công việc của mình còn được nhấn mạnh bỏ cách trò chuyện của ông, cách ăn nói và miêu tả của ông.
Những hồi ức về chính quyền Ford là một tác phẩm thuộc giai đoạn sau và phóng túng của một tác giả lớn, cố tình kết hợp một chủ đề cũ với một nỗi ám ảnh cá nhân mơ hồ. Chủ đề thứ nhất là ngoại hình và những méo mó của một gia đình, chủ đề thứ hai là chính quyền của James Buchanan, một đảng viên lập lờ của đảng Dân chủ, là Tổng thống cuối cùng trước cuộc nội chiến Mỹ. Là một người sinh trưởng ở Pennsylvania, Updike đã luôn bị thu hút bởi vị tổng thống duy nhất xuất xứ từ bang này. Năm 1974, ông đã viết một vở kịch có tên là Buchanan đang chết.
Trong cuốn tiểu thuyết mới, nhân vật Alf Clayton, một học giả ở New Hampshire đang biên soạn (vào năm 1990) một tài liệu về những năm của chính quyền Ford – một con người làm phó tổng thống rồi tổng thống mà không hề được bầu vào các chức vụ đó. Tổng thống Ford thường được đi kèm với từ “pardon” (xin lỗi) mang tính chất một câu hỏi bởi vì ông ta chẳng hiểu gì mấy về vấn đề người ta đặt ra với ông. Updike nhận xét: “Tôi ngạc nhiên về việc mặc dầu chúng ta có tất cả 42 tổng thống, thì rất có thể ông ta là người đã bị bỏ quên. Khi tôi nói với người ta về cái tít của cuốn tiểu thuyết, họ thường mỉm cười, tưởng là tôi nhắc đến một câu nói đùa cũ…”
Khi biên soạn tài liệu này, Clayton lại thường bị ám ảnh bởi nội dung tư liệu về tiểu sử của Buchanna – cả hai đều là hai tổng thống bị quên lãng từng cai trị đất nước Mỹ vào những thời kỳ khủng hoảng. Những ký ức sâu đậm cảu Clayton thời chính quyền Ford còn là chuyện của ông ta, năm 1974, muốn từ bỏ vợ con để sống với một cô bồ. Điệu nghịch lý là mặc dầu Ford là một kẻ vụng về bị hất ra khỏi chiếc giường, nhưng thời cầm quyền của ông lại trùng hợp với thời đại đỉnh cao của người Mỹ đua nhau chui vào giường ngủ. Đây là trào lưu của thập kỷ 70, thời đại tiền-SIDA, và các vấn đề hạn chế sinh đẻ và bệnh hoa liễu – ít nhất là trong các tầng lớp trẻ - chưa nảy sinh. Theo Updike, những năm giữa thập kỷ này hé ra một cánh cửa sổ cho một cơ hội tình dục giữa việc tìm ra thuốc tránh thai và sự phát sinh bệnh SIDA.
Người ta có thể tự hỏi: Nếu trong một cuốn truyện về thời này, liệu Updike có cảm thấy buộc phải giới hạn trong sinh hoạt tình dục an toàn không? Updike liền vặn lại: Có người nào trong gia đình Rabbit dùng bao tránh thai không nhỉ? Mà thực, việc đó đã được nói đến trong tập truyện cuối cùng của bộ tứ tiểu thuyết về Rabbit. Và Updike kiêu hãnh nói: “Đấy anh thấy không, cái tình dục an toàn hiện đại có trong truyện của tôi rồi đấy!”.
Về bộ tiểu thuyết saga Rabbit, độc giả của ông có phần miễn cưỡng chấp nhận cái chết của nhân vật. Họ hy vọng rằng ông sẽ cho ra tiếp tập năm vào bước ngoặt của thế kỷ sắp kết thúc vì giống như nhân vật huyền thoại Elvis, đã không thực sự chết, và có thể cung cấp cho những hồi ức về chính quyền Clinton hiện nay. Tác giả có vẻ suy nghĩ và nói hình như quả là ông đã viết bộ sách này khá hơn những tác phẩm khác và cũng có thể do cách để viết cuốn thứ năm: một tác phẩm về đám tang của gia đình Angstrom, hay vấn đề người con gái có phải là con của Harry hay không đã bỏ ngỏ. Lập luận của ông là ông sẽ 67 tuổi vào kỳ hạn xuất bản tới của một cuốn sách về Rabbit và có rất ít tiền lệ lịch sử trong văn học Mỹ khi một tác phẩm hàng đầu lại được in ra vào cái tuổi của ông. Nhưng các tác phẩm thứ 38, 39 và 40 của Updike đang chuẩn bị in – một tuyển tập thơ, một loạt truyện ngắn và một tiểu thuyết lấy bối cảnh Braxin. Ông đã thách thức cái mẫu của đời sống sáng tác trong văn học Mỹ thành công đến mức mà chừng nào ông còn gắn với tách trà thì chừng đó khả năng sinh đẻ giống như loài thỏ của ông vẫn có thể đảm bảo cho việc tái tạo ra một thiên tiểu thuyết nữa về Rabbit.
Có những nhà văn như thế - Hà Vinh-Vương Trí Nhàn – Nhà xuất bản Hội nhà văn

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Cao Hành Kiện (Gāo Xíngjiàn)

Thủ pháp hiện đại và tính dân tộc trong tiểu thuyết
"Nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai" - Cao Hành Kiện
Nhà văn Cao Hành Kiện -
Nobel văn chương 2000
Cái thường được gọi là hình thức dân tộc trong văn học Trung Quốc nghĩa là gì? Trong thơ, ít nhiều mọi chuyện cũng rõ ràng: chủ yếu đó là những khuôn mẫu âm điệu và niêm luật thơ cổ điển, hình thức ca dao. Hình thức dân tộc trong thơ cổ điển liên quan đến hai truyền thống thi các khác nhau nói trên. Trong văn xuôi, nói cho đúng ta chỉ có tiểu thuyết chương hồi mà rất ít nhà văn ngày nay còn sử dụng. Hình thức văn xuôi phần lớn các nhà văn Trung Quốc sử dụng từ cuộc vận động Ngũ Tứ (1919) chủ yếu xuất phát từ truyền thống văn xuôi phương Tây thế kỷ XVIII và XIX.

Tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc vẫn còn sử dụng thủ pháp truyền thống nào từ khi từ bỏ lối viết chương hồi? Thủ pháp được nói nhiều nhất trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc là phương pháp miêu tả trực tiếp, một thuật ngữ vay mượn của hội họa: phác họa các đường nét chính với những nét thoáng, sau đó thêm vào những nét quyết định tạo thần thái cho tác phẩm. Áp dụng vào văn  xuôi, phương pháp này chắc chắn rất độc đáo. Nhà văn ngắt quãng dòng tự sự khi đến cao trào, làm tăng hứng thú của độc giả, bắt độc giả chờ đợi diễn biến tiếp theo ở chương sau.

Một số tiểu thuyết gia sử dụng thành công kỹ thuật này. Số khác sử dụng nó đồng thời tiếp nhận những thủ pháp khác học được của truyền thống hiện thực phương Tây. Việc tiếp nhận kỹ thuật phương Tây không nhất thiết làm hại đến tính dân tộc. Câu hỏi ở đây là: những nhà văn từ thời Ngũ Tứ đã thôi sử dụng phương pháp miêu tả trực tiếp với tư cách là thủ pháp biểu hiện chủ yếu (số này rất đông), từ bỏ truyền thống, họ có làm hỏng hay biến dạng tính dân tộc trong tác phẩm hay không? Câu trả lời hiển nhiên là “không”.

Vậy là tính dân tộc trong văn học là gì? Turgenev nói rất đúng rằng “dân tộc” của ông chính là tiếng Nga. Nhà văn sáng tạo thông qua ngôn ngữ; tính dân tộc trong tác phẩm của ông toát ra trước hết và chủ yếu từ khả năng khai thác tiềm năng nghệ thuật của ngôn ngữ đó.

Trung Quốc là một đất nước có nhiều dân tộc, ở đó Hán ngữ là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ tác phẩm văn chương nào được viết bằng Hán ngữ, hoặc ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào, đều phản ánh tính dân tộc của những mức độ khác nhau.

Ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta tư duy và truyền đạt tư tưởng. Một tác phẩm viết bằng một ngôn ngữ dân tộc tất nhiên sẽ phản ánh truyền thống văn hóa, lối sống và cách suy nghĩ của dân tộc đó. Bất kể một nhà văn Trung Quốc nào cũng có thể vay mượn kỹ thuật nước ngoài, miễn là anh viết bằng một thứ tiếng Trung Quốc thuần thục, tiêu biểu thì tác phẩm ấy nhất định phải có phong vị dân tộc. Nước Italia mà Gorky miêu tả sẽ vẫn là nước Italia trong văn học Nga. Cũng như vậy, đối với nước Mỹ nhìn qua góc độ một nhà văn nhập cư Trung Quốc. Những mô tả của anh ta khác căn bản với mô tả của các nhà văn Mỹ.

Khi nhà văn miêu tả thực hiện dân tộc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nếu tác phẩm của anh ta càng sinh động thì tính dân tộc càng cao. Thủ pháp sử dụng chỉ là thứ yếu.

Nữ thần, tập thơ của Quách Mạt Nhược, hiển nhiên là chịu ảnh hưởng của Walt Whitman. Tuy nhiên không ai nghĩ đây là thơ ngoại quốc. Phong cách thơ tự do của Nghĩa Thạch không chỉ bắt nguồn từ trường phái ấn tượng và tượng trưng, nó còn phản ánh ý thức nỗ lực của nhà thơ nhằm phá vỡ khuôn khổ thơ ca dân gian. Lỗ Tấn còn cực đoan hơn khi chủ trương “nguyên lý hiệu quả”. Trong truyện và thơ của ông có sự pha trộn giữa các thủ pháp hiện thực phê phán lãng mạn, ấn tượng, tượng trưng và siêu thực. Trong Nhật ký người điên, Lỗ Tấn đã đi trước Kafka: ông vay mượn của Gogol thủ pháp thô kệch. Tác phẩm thơ văn xuôi, Khách qua đường của ông chẳng khác mấy kịch của Pirandello, và được viết nhiều năm trước khi có các vở kịch của Ionesco và Beckett. Ông sử dụng thủ pháp tượng trưng trong Thầy lang Báo thù, thủ pháp ấn tượng trong Chuyện người tốt, Hành KhấtMưa thu, thủ pháp siêu thực (mà lúc đó mới chỉ bắt đầu hiện thực ở phương Tây) trong Bia mộ Dao động. Hơn nữa, A.Q chính truyện được viết theo một lối chưa từng có trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc.

Các nhà tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc xuất chúng nhất, Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Đinh Linh đều phối hợp các kỹ thuật phương Tây để tạo ra phong cách riêng của họ. Độ sâu rộng của hiện thực, tính cách của các tầng lớp xã hội được miêu tả trong các tác phẩm của họ vượt xa những nhà văn khư khư giữ lấy cách viết truyền thống.
Tranh mực tàu của Cao Hành Kiện
Khi Lỗ Tấn viết A.Q chính truyện có lẽ ông không chủ tâm tìm kiếm một hình thức dân tộc cho văn xuôi. Tuy nhiên giọng văn điềm tĩnh riêng có ở ông, trong đó pha trộn cảm tình với châm biếm, đã cho phép ông không những thể hiện cuộc đời cơ cực và tâm lý của một người nông dân mà còn phản ánh được đời sống và tâm lý xã hội nửa thực dân phong kiến khi ấy. Khi đọc truyện ngắn này, nhà văn Romain Rolland, một người tắm mình trong văn hóa Latin và trưởng thành trong một xã hội hoàn toàn khác với Lỗ Tấn, đã không kìm nổi những giọt nước mắt. Tiểu thuyết Gia tộc của Ba Kim, với nội dung tập trung vào số phận và khát vọng của thanh niên Trung Quốc trước và sau phong trào Ngũ Tứ, cũng gây được ấn tượng cho nhiều độc giả phương Tây. Điều đó chỉ ra rằng nếu một nhà văn miêu tả chân thực của đời sống nhân dân, độc giả ở các nước khác cũng sẽ xúc động và hiểu như độc giả trong nước.

Thủ pháp nghệ thuật vượt qua mọi biên giới quốc gia. Nó không phải là độc quyền của một dân tộc nào. Tinh thần dân tộc có một lịch sử lâu dài, mạnh mẽ và bền bỉ hơn tuổi thọ tương đối ngắn của một thủ pháp. Nó là tổng hòa của truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán xã hội, khuôn mẫu tâm lý, thói quen thẩm mỹ và phong cách tư duy. Việc sử dụng và tiếp thu các thủ pháp mới không bao giờ là trở ngại cho sự phát triển lành mạnh của văn học dân tộc.

Việc tìm kiếm các thủ pháp nghệ thuật không phải lúc nào cũng đem lại kết quả. Phần lớn các nghệ sĩ lớn đều trải qua những thất bại cay đắng. Họ không nghĩ rằng tất cả các tác phẩm của họ sẽ trở thành kinh điển và sống mãi với hậu thế. Thực tế có những tác phẩm lớn mà khi ra đời không được xã hội công nhận. Tuy nhiên lịch sử mới là người cầm cân. Thậm chí nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai. Đó là một thái độ nên có khi bàn về truyền thống và cách tân.

Xem thêm về Cao Hành Kiện:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=7019

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=6964

http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2005/05/3B9ACFE6/

http://evan.vnexpress.net/Search/?p=1&r=5&a=3&s=Cao%20H%26%23224%3Bnh%20Ki%26%237879%3Bn

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Octavio Paz

ĐI TÌM THỜI HIỆN ĐẠI
(diễn từ nhận giải Nobel)
Tư tưởng về cái Hiện Đại là một thứ phẩm của quan niệm về lịch sử như một quá trình liên tục, thẳng duột và không thể được lặp lại. Dù các ngọn nguồn của nó nằm ở trong Do thái Cơ đốc giáo, tư tưởng về cái Hiện Đại là một sự đoạn tuyệt với học thuyết Cơ đốc giáo. Cơ đốc giáo đã phá bỏ thời gian chu kỳ của những người theo đa thần giáo. Cơ đốc giáo quan niệm rằng lịch sử không bị lặp lại, nó có một khởi thủy và sẽ có chung cục; thời gian liên tục là thời gian trần tục của lịch sử, là sân khấu hành động của những người đã ngã xuống, nhưng bị nhồi nhét vào thời gian thần thánh, không có khỏi thủy cũng chẳng có chung cục. Sau ngày Phán xử cuối cùng, trên thượng giới cũng như dưới địa ngục, sẽ chẳng có tương lai. Trong cõi Vĩnh Hằng không xẩy ra điều gì vì tất cả đã hoàn thiện. Thắng lợi của con người đối với tương lai. Thời gian mới, thời gian của chúng ta là thời gian thẳng đuột như quan niệm của Cơ đốc giáo nhưng lại mở về vô hạn và không phân biệt với cái Hiện Đại. Thời gian của chúng ta là thời gian của lịch sử thế tục. Thời gian không thể quay trở lại và mãi mãi không kết thúc, nó đang tiến về không phải sự chung cục mà là về tương lai. Mặt trời của lịch sử được gọi là tương lai và tên gọi của phong trào hướng tới tương lai là Tiến Bộ.

Đối với Cơ đốc giáo, thế giới - hoặc giả như trước đây được gọi là hai năm mươi, đời sống trần gian - là một địa điểm thử thách: linh hồn bị tiêu tan hay được cứu rỗi trên thế giới này. Đối với quan niệm mới, chủ thể lịch sử không phải linh hồn cá nhân mà là loại người, lúc này được hiểu như là một toàn thể lúc khác lại được hiểu qua một nhóm được chọn làm đại diện cho loài người, ví như các quốc gia phát triển của phương Tây, giai cấp vô sản, chủng tộc da trắng hoặc bất kỳ một nhóm người nào. Truyền thống truyền thuyết đa thần giáo và ky tô giáo đã đề cao Con Người, sự hoàn thiện, toàn mỹ. Chúng ta yêu mến sự Thay Đổi: động lực của sự tiến bộ và khuôn mẫu của các xã hội chúng ta. Sự Thay Đổi có hai hình thức biểu hiện được tôn vinh: tiến hóa và cách mạng, bước đều và nhảy vọt. Cái hiện đại là mũi nhọn của vận động lịch sử, và là sự hiện diện bằng xương thịt của tiến hóa hay của cách mạng đó là hai mặt của sự tiến bộ. Cuối cùng sự tiến bộ được thực hiện nhờ hành động nhân đôi của khoa học và của kỹ thuật, được áp dụng cho sự thống trị giới tự nhiên và cho sự sử dụng các của cải bao la của nó.


Con người hiện đại, tự khăng định mình như là con người lịch sử. Một số xã hội khác lại muốn tự khẳng định mình bằng những giá trị và tư tưởng ngược lại với sự thay đổi: những người Hy Lạp đầu độc nữ thần Polis và hoàn cảnh xung quanh mà họ không biết đến sự tiến bộ, sự quay trở lại vĩnh viến khiến cho Seneca cũng như một số kẻ khắc kỷ khác phải mất ngủ, thánh Augustin tin rằng sự chung cục của thế giới là đáng sợ, thánh Tomas làm một thang bậc cho con cháu Đấng Sáng Thế. Những tư tưởng và niềm tin tôn giáo ấy cái nọ theo cái kia đều bị từ bỏ. Hình như tôi cũng thấy rằng điều đó đã bắt đầu xảy ra đối với tư tưởng về sự tiến bộ, và do đó đối với nhãn quan của chúng ta về thời gian, về lịch sử và về chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến buổi chạng vạng tranh tối tranh sáng của tương lai. Sự chìm xuống của tư tưởng về cái Hiện Đại và sự thăng lên của một quan niệm rất lơ mơ như quan niệm "hậu hiện đại", chúng không chỉ là những hiện tượng từng tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật và văn học mà còn là khung cảnh trong đó chúng ta sống cuộc khủng hoảng các tư tưởng và niềm tin tôn giáo cơ bản từng lay động con người suốt hai thế kỷ nay. Về vấn đề này trong nhiều dịp tôi đã đề cập khá đầy đủ. Ở đây, tôi chỉ có thể làm một bản tóm lược ngắn gọn.


Thứ nhất, Quan niệm về một quá trình mở tới vô hạn và đồng nghĩa với sự tiến bộ liên tục đã bị cấm. Hầu như tôi chỉ cần dẫn ra điều mà tất cả chúng ta đã biết: của cải thiên nhiên là có hạn và một ngày nào đó sẽ cạn kiệt. Ngoài ra, chúng ta đã gây nên tổn hại không thể bù đắp nổi đối với môi trường tự nhiên và chính nó đang bị đe dọa. Mặt khác, các công cụ của sự tiến bộ - khoa học và kỹ thuật - đã chứng minh với một sự sáng tỏ đáng sợ rằng: chúng có thể đễ dàng trở thành công cụ phá hoại. Cuối cùng sự tồn tại của vũ khí hạt nhân là một sự phản bác của tư tưởng về sự tiến bộ lịch sử. Một sự phản bác mà chỉ có thể gọi là sự phá hủy thôi.


Thứ hai: Vận may của chủ thể lịch sử, tức là của tập thể nhân loại trong thế kỷ XX. Rất ít khi các dân tộc và các cá nhân phải chịu bao đau khổ như ở thế kỷ này: hai cuộc chiến tranh thế giới, các thể chế chuyên chế được thiết lập trên cả năm châu lục, bom nguyên tử cuối cùng là sự lan truyền của trại tập trung, một trong những công cụ tàn bạo và chết người nhất mà loài người được biết tới. Những đóng góp to lớn của kỹ thuật là không thể kể hết nhưng cũng không thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh giết chóc, tra tấn, trước sỉ nhục và hạ cấp con người và mốt số tổn thương khác từng khiến hàng triệu người vô tội phải chịu đựng trong thế kỷ chúng ta.


Thứ ba: Niềm tin trong sự tiến bộ cần thiết. Đối với cha ông chúng ta những đổ nát của lịch sử - hài cốt, chiến trường hoang phế, thành phố đổ nát - không từ chối lòng tốt căn bản của quá trình lịch sử. Trường bắn và chế độ độc tài, chiến tranh và sự bạo liệt của các cuộc đấu tranh dân sự là cái giá của sự tiến bộ, là đồng tiền bằng máu phải trả cho Thượng đế của lịch sử. Một Thượng đế ư? Phải, một Thượng đế, đó chính là lý lẽ được thần thánh hóa và phong phú, theo như Hegel nói. Lý trí vờ vĩnh của lịch sử đã bị bốc hơi. Trong chính sự thống trị của trật tự, bình ổn, hợp tác - trong các khoa học chính xác và trong vật lý học - đã xuất hiện trở lại vài quan niệm xưa cũ về tai biết và thảm họa. Sự nổi loạn rùng rợn khiến tôi nghĩ đến những nỗi kinh hoàng của năm một ngàn và những đau đớn của người Azteca vào cuối mỗi chu kỳ vũ trụ của họ.


Để kết thúc tôi xin nói về: sự đổ nát của tất cả những giả định triết học và lịch sử từng mưu toan sự hiểu biết các quy luật của sự phát triển lịch sử. Những môn đệ của chúng, những người tin rằng họ là chủ nhân những chìa khóa lịch sử, đã xây dựng những Nhà nước hùng cường trên những kim tự tháp xác người. Những xây dựng kiêu ngạo ấy, được mệnh danh là để giải phóng con người, đã nhanh chóng biến thành các trại giam khổng lồ. Hôm nay chúng ta đã thấy chúng đổ sụp. Không phải những kẻ thù tư tưởng mà chính là sự mệt mỏi và khát vọng tự do của các thế hệ mới đã lật đổ chúng. Phải chăng đó là cái kết chung cục của các lý thuyết không tưởng? Đúng hơn đó là cái kết cục của tư tưởng lịch sử như là một hiện tượng mà sự phát triển của nó được người ta hiểu rất rõ. Thuyết quyết định lịch sử đã là một bóng ma đẫm máu và đắt giá. Lịch sử là không thể được nhìn rõ vì chủ thể của nó, con người: là sự không quyết định trong tính cách rồi.

Nhà thơ người Mexico Octavio Paz
Sự ôn lại này cho thấy rằng rất có thể chúng ta đang ở vào giữa ngày chung cục của một giai đoạn lịch sử và ngày khởi thủy của một giai đoạn khác. Kết cục hay là sự thay đổi của Thời Hiện Đại? Thật khó lòng mà biết được. Tóm lại, sự sụp đổ các học thuyết không tưởng đã để lại một khoảng trống lớn không chỉ ở những nước mà tư tưởng đó đã được thử nghiệm và bị thất bại mà còn có ở những nơi khác từng có rất nhiều người tràn đầy nhiệt tình và hy vọng đón chào nó. Lần đầu tiên trong lịch sử con người được sống dưới một vận may của bầu trời tinh thần phong quang và không như trước sống dưới bóng tối của những thiết chế tôn giáo và chính trị vừa áp chế vừa an ủi chúng ta. Các xã hội là lịch sử nhưng không phải tất cả mọi xã hội đều được dắt dẫn bởi một tập hợp các niềm tin tôn giá và các tư tưởng metahistorie. Xã hội chúng ta là xã hội đầu tiên đã được chuẩn bị để sống mà không cần có một học thuyết hậu metahistorie. Những giá trị tuyệt đối của chúng ta - tôn giá và triết học, nhân chủng học và thẩm mỹ học không còn là của tập thể mà là của cá thể. Kinh nghiệm là nguy hiểm.  Không thể biết nếu như các mối căng thẳng và mâu thuẫn của sự tư nhân hóa các tư tưởng, các kinh nghiệm, các niềm tin tôn giáo này, những thứ vốn thuộc về đời sống cộng đồng một cách truyền thống, trước đây liệu có làm tan vỡ tổ chức xã hội không. Lại một lần nữa con người sẽ có thể bị sở hữu bởi những cơn cuồng nộ tôn giáo xưa cũ, và của những kẻ cuồng tín dân tộc. Sẽ là khủng khiếp khi biết rằng sự sụp đổ của thần tượng trừu tượng của hệ tư tưởng sẽ là dự báo trước cho sự nổi dậy của các đam mê trong các bộ tộc, các bè đảng và các nhà thờ đã từng bị chôn vùi. Thật là bất hạnh, các dấu hiệu thẩy đều không yên lòng.

Nhà thơ Octavio Paz thời trẻ
Sự sụp đô của các hệ tư tưởng mà tội gọi là metahistorie (tức là những hệ tư tưởng đã chỉ ra một chung cục và một hướng đi tới cho lịch sử), bao gồm cả sự rời bỏ thầm lặng của những giải pháp toàn bộ. Chúng ta cứ cúi đầu thêm nữa, và thêm nữa với cảm giác tốt đẹp, trước những cách thức hạn hẹp để giải quyết những vấn đề chung. Việc thiết lập tương lai phải cẩn trọng. Nhưng thời hiện tại đòi hỏi không chỉ quan tâm đến những yêu cầu cấp thiết trước mắt mà còn đòi hỏi chúng ta một suy nghĩ toàn diện và hữu hiệu hơn. Đã từ lâu tôi tin và tôi càng tin mạnh mẽ hơn rằng buổi hoàng hôn của tương lai đã tuyên xưng sự hiện diện của ngày hôm nay. Nghĩ ngày hôm nay có nghĩa trước hết là khôi phục lại cái nhìn phê phán. ví dụ thắng lợi của kinh tế thị trường - một thắng lợi đã tạo ra sự vắng mặt đối phương - không thể là lý do duy nhất để mừng vui. Thị trường là một thủ pháp hữu hiệu, nhưng cũng như tất cả mọi thủ pháp (mecanismo) nó không có lương tri và lòng thương hại. Cần tìm ra phương pháp đưa nó vào xã hội để nó là sự biểu hiện của khế ước xã hội và là một công cụ công lý và công bằng. Các xã hội dân chủ phát triển và đã đạt tới một sự thịnh vượng đáng được mơ ước, cũng vì vậy chúng là các đảo giầu có giữa đại dương nghèo đói toàn cầu. Chủ đề về thị trường có một mối quan hệ rất chặt chẽ với sự độc hại của môi trường. Ô nhiễm không chỉ đầu độc bầu không khí, đầu độc các dòng sông, các cánh rừng mà còn đầu độc tâm hồn. Một xã hội bị thống trị của sự cuồng say nhằm sản xuất nhiều hơn nữa để tiêu thụ nhiều hơn nữa càng có khuynh hướng biến tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, tình bạn, tình yêu và cả chính con người thành các đồ vật tiêu thụ. Tất cả rồi lại trở về đồ vật mà người ta mua, người ta xài và người ta ném vào sọt rác. Không một xã hội nào đã sản xuất ra nhiều đồ thải đi như  xã hội chúng ta. Những đồ thải vật chất bị thải đi và những đồ thải đạo đức bị thải đi.
Sự suy nghĩ bây giờ không loại bỏ tương lai cũng không quên quá khứ: thời hiện tại là địa điểm gặp gỡ của ba thời gian. Cũng không thể nhầm lẫn với một thứ chủ nghĩa khoái lạc dễ dãi. Cây khoái lạc không sinh trưởng trong thời quá khứ hay thời tương lai mà ngay trong chính thời hiện tại. Cái chết cũng là một tương lai của thời hiện tại. Chúng ta không thể từ chối cái chết vì nó là một phần của cuộc sống. Sống đẹp đòi hỏi phải chết đẹp. Chúng ta phải học để nhìn thẳng vào cái chết. Sáng và tối, tối và sáng liên tục thay đổi cho nhau, đó là thời hiện tại. Thời hiện tại là một hành tinh đã thống nhất hai mặt đó lại, đã thống nhất hành động và chiêm quan. Như vậy chúng ta có triết lý về thời quá khứ và thời hiện tại, về cái vĩnh hằng và cái hư vô, ngày mai chúng ta sẽ có một triết lý về thời hiện tại. Kinh nghiệm thơ ca có thể là mọt trong những cuộc sống của triết lý đó. Chúng ta hiểu gì về thời hiện tại? Chẳng hiểu gì hay gần như chẳng hiểu biết  gì. Nhưng các thi sĩ lại hiểu một cái gì đó: thời hiện tại là ngọn nguồn của những sự hiện hữu.

Nhiều lần tôi đánh mất mình và tìm lại thấy mình trong cuộc phiêu lưu đi tìm cái Hiện Đại. Tôi trở về cội nguồn của mình và tôi thấy rằng cái hiện đại không ở ngoài mà ở trong chính chúng ta. Nó là ngày hôm nay đồng thời là thời cổ đại nhất, nó là ngày mai và là ngày bắt đầu của thế giới, nó có ngàn tuổi nhưng lại vừa mới chào đời. Nó nói bằng ngôn ngữ Náhuatl, viết chữ Hán tượng hình từ thế kỉ IX và xuất hiện trên màn ảnh nhỏ. Thời hiện tại mới tinh khôi. Vừa mới được đào lên khỏi lòng đất, gĩ đi bụi bặm nhiều thế kỷ, nó mỉm cười và ngay lập tức qua cửa sổ nó biến mất. Thờ hiện tại là sự đồng thời cùng một lúc vừa là các thời đại và vừa là các hiện diện. Cái hiện đại phá vỡ quá khứ tức thời chỉ là để giữ lại cái quá khứ ngàn năm. Và trở thành một hình ảnh trù mặt của thời đồ đá mới trong thời hiện tại của chúng ta. Chúng ta truy tìm cái hiện đại trong những ẩn dụ không cạn kiệt của nó và không bao giờ chúng ta tóm được nó. Nó luôn luôn chuồn mất, mỗi lần gặp gỡ là một lần nó chạy trốn. Chúng ta vừa ôm được nó và ngay lập tức nó biến mất, hóa ra chỉ là một ít không khí. Cái hiện đại là khoảnh khắc, là con chim có mặt ở mọi nơi và không ở một nơi nào. Thời hiện tại tựa như một cá gì đó được bọc bởi một nhúm âm tiết. Chúng ta muốn giương cao nó lên một cách sống động nhưng nó vỗ cánh rồi biến mất tăm. Chúng ta còn lại hai bàn tay trắng. Thế là ngay lúc đó những cánh cửa của sự thụ cảm hé mở và ló ra cái thời khác, thời chân thực, thời mà chúng ta đi tìm mà không biết: đó là thời hiện tại, sự hiện diện.

Những bậc thầy văn chương - Lê Huy Hòa-Nguyễn Văn Bình (biên soạn) - Nhà xuất bản Lao Động