Hiển thị các bài đăng có nhãn tiểu thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiểu thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2011

Cao Hành Kiện (Gāo Xíngjiàn)

Thủ pháp hiện đại và tính dân tộc trong tiểu thuyết
"Nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai" - Cao Hành Kiện
Nhà văn Cao Hành Kiện -
Nobel văn chương 2000
Cái thường được gọi là hình thức dân tộc trong văn học Trung Quốc nghĩa là gì? Trong thơ, ít nhiều mọi chuyện cũng rõ ràng: chủ yếu đó là những khuôn mẫu âm điệu và niêm luật thơ cổ điển, hình thức ca dao. Hình thức dân tộc trong thơ cổ điển liên quan đến hai truyền thống thi các khác nhau nói trên. Trong văn xuôi, nói cho đúng ta chỉ có tiểu thuyết chương hồi mà rất ít nhà văn ngày nay còn sử dụng. Hình thức văn xuôi phần lớn các nhà văn Trung Quốc sử dụng từ cuộc vận động Ngũ Tứ (1919) chủ yếu xuất phát từ truyền thống văn xuôi phương Tây thế kỷ XVIII và XIX.

Tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc vẫn còn sử dụng thủ pháp truyền thống nào từ khi từ bỏ lối viết chương hồi? Thủ pháp được nói nhiều nhất trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc là phương pháp miêu tả trực tiếp, một thuật ngữ vay mượn của hội họa: phác họa các đường nét chính với những nét thoáng, sau đó thêm vào những nét quyết định tạo thần thái cho tác phẩm. Áp dụng vào văn  xuôi, phương pháp này chắc chắn rất độc đáo. Nhà văn ngắt quãng dòng tự sự khi đến cao trào, làm tăng hứng thú của độc giả, bắt độc giả chờ đợi diễn biến tiếp theo ở chương sau.

Một số tiểu thuyết gia sử dụng thành công kỹ thuật này. Số khác sử dụng nó đồng thời tiếp nhận những thủ pháp khác học được của truyền thống hiện thực phương Tây. Việc tiếp nhận kỹ thuật phương Tây không nhất thiết làm hại đến tính dân tộc. Câu hỏi ở đây là: những nhà văn từ thời Ngũ Tứ đã thôi sử dụng phương pháp miêu tả trực tiếp với tư cách là thủ pháp biểu hiện chủ yếu (số này rất đông), từ bỏ truyền thống, họ có làm hỏng hay biến dạng tính dân tộc trong tác phẩm hay không? Câu trả lời hiển nhiên là “không”.

Vậy là tính dân tộc trong văn học là gì? Turgenev nói rất đúng rằng “dân tộc” của ông chính là tiếng Nga. Nhà văn sáng tạo thông qua ngôn ngữ; tính dân tộc trong tác phẩm của ông toát ra trước hết và chủ yếu từ khả năng khai thác tiềm năng nghệ thuật của ngôn ngữ đó.

Trung Quốc là một đất nước có nhiều dân tộc, ở đó Hán ngữ là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ tác phẩm văn chương nào được viết bằng Hán ngữ, hoặc ngôn ngữ của bất kỳ dân tộc nào, đều phản ánh tính dân tộc của những mức độ khác nhau.

Ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta tư duy và truyền đạt tư tưởng. Một tác phẩm viết bằng một ngôn ngữ dân tộc tất nhiên sẽ phản ánh truyền thống văn hóa, lối sống và cách suy nghĩ của dân tộc đó. Bất kể một nhà văn Trung Quốc nào cũng có thể vay mượn kỹ thuật nước ngoài, miễn là anh viết bằng một thứ tiếng Trung Quốc thuần thục, tiêu biểu thì tác phẩm ấy nhất định phải có phong vị dân tộc. Nước Italia mà Gorky miêu tả sẽ vẫn là nước Italia trong văn học Nga. Cũng như vậy, đối với nước Mỹ nhìn qua góc độ một nhà văn nhập cư Trung Quốc. Những mô tả của anh ta khác căn bản với mô tả của các nhà văn Mỹ.

Khi nhà văn miêu tả thực hiện dân tộc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nếu tác phẩm của anh ta càng sinh động thì tính dân tộc càng cao. Thủ pháp sử dụng chỉ là thứ yếu.

Nữ thần, tập thơ của Quách Mạt Nhược, hiển nhiên là chịu ảnh hưởng của Walt Whitman. Tuy nhiên không ai nghĩ đây là thơ ngoại quốc. Phong cách thơ tự do của Nghĩa Thạch không chỉ bắt nguồn từ trường phái ấn tượng và tượng trưng, nó còn phản ánh ý thức nỗ lực của nhà thơ nhằm phá vỡ khuôn khổ thơ ca dân gian. Lỗ Tấn còn cực đoan hơn khi chủ trương “nguyên lý hiệu quả”. Trong truyện và thơ của ông có sự pha trộn giữa các thủ pháp hiện thực phê phán lãng mạn, ấn tượng, tượng trưng và siêu thực. Trong Nhật ký người điên, Lỗ Tấn đã đi trước Kafka: ông vay mượn của Gogol thủ pháp thô kệch. Tác phẩm thơ văn xuôi, Khách qua đường của ông chẳng khác mấy kịch của Pirandello, và được viết nhiều năm trước khi có các vở kịch của Ionesco và Beckett. Ông sử dụng thủ pháp tượng trưng trong Thầy lang Báo thù, thủ pháp ấn tượng trong Chuyện người tốt, Hành KhấtMưa thu, thủ pháp siêu thực (mà lúc đó mới chỉ bắt đầu hiện thực ở phương Tây) trong Bia mộ Dao động. Hơn nữa, A.Q chính truyện được viết theo một lối chưa từng có trong văn xuôi cổ điển Trung Quốc.

Các nhà tiểu thuyết hiện đại Trung Quốc xuất chúng nhất, Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Đinh Linh đều phối hợp các kỹ thuật phương Tây để tạo ra phong cách riêng của họ. Độ sâu rộng của hiện thực, tính cách của các tầng lớp xã hội được miêu tả trong các tác phẩm của họ vượt xa những nhà văn khư khư giữ lấy cách viết truyền thống.
Tranh mực tàu của Cao Hành Kiện
Khi Lỗ Tấn viết A.Q chính truyện có lẽ ông không chủ tâm tìm kiếm một hình thức dân tộc cho văn xuôi. Tuy nhiên giọng văn điềm tĩnh riêng có ở ông, trong đó pha trộn cảm tình với châm biếm, đã cho phép ông không những thể hiện cuộc đời cơ cực và tâm lý của một người nông dân mà còn phản ánh được đời sống và tâm lý xã hội nửa thực dân phong kiến khi ấy. Khi đọc truyện ngắn này, nhà văn Romain Rolland, một người tắm mình trong văn hóa Latin và trưởng thành trong một xã hội hoàn toàn khác với Lỗ Tấn, đã không kìm nổi những giọt nước mắt. Tiểu thuyết Gia tộc của Ba Kim, với nội dung tập trung vào số phận và khát vọng của thanh niên Trung Quốc trước và sau phong trào Ngũ Tứ, cũng gây được ấn tượng cho nhiều độc giả phương Tây. Điều đó chỉ ra rằng nếu một nhà văn miêu tả chân thực của đời sống nhân dân, độc giả ở các nước khác cũng sẽ xúc động và hiểu như độc giả trong nước.

Thủ pháp nghệ thuật vượt qua mọi biên giới quốc gia. Nó không phải là độc quyền của một dân tộc nào. Tinh thần dân tộc có một lịch sử lâu dài, mạnh mẽ và bền bỉ hơn tuổi thọ tương đối ngắn của một thủ pháp. Nó là tổng hòa của truyền thống văn hóa dân tộc, tập quán xã hội, khuôn mẫu tâm lý, thói quen thẩm mỹ và phong cách tư duy. Việc sử dụng và tiếp thu các thủ pháp mới không bao giờ là trở ngại cho sự phát triển lành mạnh của văn học dân tộc.

Việc tìm kiếm các thủ pháp nghệ thuật không phải lúc nào cũng đem lại kết quả. Phần lớn các nghệ sĩ lớn đều trải qua những thất bại cay đắng. Họ không nghĩ rằng tất cả các tác phẩm của họ sẽ trở thành kinh điển và sống mãi với hậu thế. Thực tế có những tác phẩm lớn mà khi ra đời không được xã hội công nhận. Tuy nhiên lịch sử mới là người cầm cân. Thậm chí nếu một tác phẩm trở thành kinh điển thì nó cũng nên là hòn đá lót đường cho hậu thế chứ đừng là gánh nặng cho tương lai. Đó là một thái độ nên có khi bàn về truyền thống và cách tân.

Xem thêm về Cao Hành Kiện:

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=7019

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=3E62251C4846FBD72A73E99B5BB14A39?action=viewArtwork&artworkId=6964

http://evan.vnexpress.net/News/chan-dung/2005/05/3B9ACFE6/

http://evan.vnexpress.net/Search/?p=1&r=5&a=3&s=Cao%20H%26%23224%3Bnh%20Ki%26%237879%3Bn

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Milan Kundéra (2)

Từ trải nghiệm đến bản sắc

Tức thời, cuốn hút, những nhân vật đầy ám ảnh!

Nhà văn Tiệp lừng danh
Milan Kundéra
Đây là một cặp tình nhân, Jean-Marc và Chantal - chàng thì trẻ hơn nàng một ít - vừa âu yếm vừa đùa nghịch. Một bữa anh chàng bày ra một trò đáng ngờ để làm cho cô nàng tin vào khả năng mình có thể khơi dậy những tham muốn của những chàng trai khác. Quả là một sáng kiến chết người: kết cục anh chuốc lấy sự ghen tuông và giết chết những ý định ban đầu. Còn với cô Chantal, đàng sau cái mưu mô và cạm bẫy đó, đã nhen nhúm lên những ý nghĩ thù nghịc, hoàn toàn đi ngược lại cái ý đồ tốt đẹp đã khuyến khích người bạn tình của mình khởi xướng ra trò này. Từ nghi ngờ đến khinh ghét, một kết cục thật trớ trêu.

Một trò vui trở thành bi kịch, đây là tấm phim X quang mang chất bệnh viện về sự hiểu nhầm cơ bản gắn liền với những lứa đôi. Với những ai từng hâm mộ những cuốn sách của Kundera thì chuyện này không làm họ bỡ ngỡ. Cái có nguy cơ làm họ lạc hướng chính là cái hình thức mới của "thứ nghệ thuật tiểu thuyết" mà ông thực hiện ở đây, đặc biệt là sự biến mất hoàn toàn sự can thiệp của tác giả và những thể nghiệm riêng của ông để trở về với cái công thức thuần túy Kundera, đưa thiên truyện quay lại dòng chảy trước kia của ông. Ở đây, không chỉ những cảm nghĩ, những suy tư hiện sinh bị tước đi mà, đơn giản thôi, chúng được gắn liền với nhân vật (trong lời nói và những ý nghĩ thầm kín của họ). Ở đây có sự hoán vị khá thường xuyên giữa hai cách nhìn, hai giọng nói, hai cảm nghĩ. Từ đó người ta hiểu được tại sao mỗi con người trong hai nhân vật chính đó lại hiểu sai về người kia, không nhìn thấy được "bản sắc" thực sự của đối tượng, hiểu lầm về động cơ và dụng tâm của đối tượng mình. Tất cả những cái đó mở đầu cho việc dẫn dắt đến một kết cục bi đát.

Như vậy, người ta có thể suy luận rằng Kundera quay về với thứ tiểu thuyết tâm lý thuần túy và đơn giản chăng? Chẳng phải thế. Bởi vì cách kết cấu đó cũng phục vụ cho sự triển khai những tình huống trong đó đủ loại những chủ đề phụ thâm nhập vào. Chính là qua đó một cuốn tiểu thuyết sẽ làm cái chức năng mà Kundera luôn luôn gá cho nghệ thuật viết truyện: phát lộ cá phần sâu kín của sự trải nghiệm của con người vốn chỉ mình ông mới có thể làm cho nó bật ra một cách bất ngờ.

Vì hiểu rõ hơn bản thân các nhân vật (nhờ đi vào đời sống nội tâm được che giấu trong mỗi người), độc giả của Bản sắc (L'Identité), lập tức đặt mình vào trong cái ảo tưởng cho là mình chi phối được mọi tình huống mà thiên truyện gợi nên. Và rồi dần dần sự tin chắc ấy bị lung lay. Có những sự trượt ngang đầy bối rối, những sự trùng hợp lạ kỳ, khiến người ta bắt đầu liên tưởng đến nghệ thuât kết cấu (với thủ pháp "các mô típ tiếp nối" giữa các lớp tách biệt nhau một đặc trưng kết cấu thường có trong tiểu thuyết của Kundera), trước khi cảm thấy rằng cái đó dần dần biến đổi cả cái cách thức "giống như thật" đặt ra ngay từ đầu. Và người ta cũng bị cuốn đi một cách vô thức từ thế giới thực đến thế giới mê sảng, bất an, gần với thế giới của Kafka, lên tới đỉnh điểm trong những hồi lớp cuối. Những tiểu thuyết gia Mỹ Latin như Cortázar, Garcia Marquez, Fuentes đã làm cho chúng ta quen với sự cộng sinh trong cùng một thiên truyện giữa chủ nghĩa hiện thực và cái hoang tưởng.

Nhìn từ ngoài, ngòi bút của Kundera đã chuyển qua ba giai đoạn: Từ năm 1972, 4 tác phẩm được viết bằng tiếng Tiệp tại Tiệp Khắc, đến năm 1988 ba cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Tiệp, nhưng tại Pháp; và sau đó hai cuốn mới viết ở Pháp bằng tiếng Pháp.

Theo Kundera, mỗi một nhà viết tiểu thuyết xứng đáng với cái tên ấy thường tuân thủ hai điều luật: thứ nhất, chỉ nói những gì chưa nói ra; thứ hai, luôn luôn tìm kiếm một hình thức mới. Tuy nhiên, việc tìm kiếm hình thức mới có những giới hạn của nó. Để khỏi đánh rơi mất tính độc đáo của mình, người ta không thể vượt ra khỏi những giới hạn của chính bản thân mình. Đấy là lý do tại sao những hồi lớp cũ của Bản sắc viết bằng tiếng Pháp lại mang cái giọng điệu như những cuốn viết bằng tiếng Tiệp. Kundera nói: "Ngôn ngữ của tôi tìm cách trở nên đơn giản, chuẩn xác, gần như trong suốt, và nó muốn được như vậy trong bất cứ ngôn ngữ nào. Nhưng trước hết tôi nhấn mạnh đến điều này: nhà văn được quy định bởi một vòng ma thuật những chủ đề nào đó để biết ra được những bí ẩn hiện sinh đã ám ảnh suốt đờ họ và là lý do khiến họ cầm bút".

Cũng theo Kundera: "Tiểu thuyết Tiệp giống như hình thức của một bản sonate: một nhạc phẩm lớn có nhiều chương tương phản nhau. Với cuốn Sự bất tử (L'Imortalité) tôi đã đi đến tận cùng của hình thức này. Sau đó, đối với tôi chỉ còn là việc đóng cửa lại hay chuyển sang một hình thức mới. Sau đó nữa, khi tôi không chờ đợi, và với niềm vui hiếm hoi và một sự nhanh chóng hiếm hoi, tôi viết cuốn Sự chậm chạp (La Lenteur) và lập tức tôi đã thoát ra. Từ nghệ thuật sonate tôi đã đi vào nghệ thuật fugue (tấu khúc): khuôn khổ ngắn hơn, một nguyên khối có thể chia cắt, cũng cùng với chủ đề và mô típ không ngừng có mặt và không ngừng thay đổi. Tuy nhiên, những vấn đề cũ về mặt hình thức tiểu thuyết vẫn tồn tại, chẳng hạn làm thế nào hội nhập cái không thể xảy ra trong một cuốn tiểu thuyết được coi là sáng suốt? Làm thế nào để đưa cái không thể nhận thấ vào sự chuyển biến từ một hiện thực đến một giấc mơ"?

Ông từng nói nhiều đến cái vòng ma thuật của những chủ đề và lý do tồn tại của tác phẩm, việc khám phá những chủ đề lớn của sự tồn tại. Có khá nhiều chủ đề trong Bản sắc đã hiện diện trong những tác phẩm trước đó (như tình bạn, hiểu lầm, huyền thoại hóa) và một số nét mới (như âu lo, bên lề và bản sắc). Nhưng cái chủ đề xuyên suốt và cố kết tất cả lại trong Bản sắc là tình yêu, một tình yêu hết sức buồn cười.

Theo tác giả, Chantal của Bản sắc chính là người chị em bí mật của Agnès trong Sự bất tử. Agnès tự hỏi: "Làm sao có thể sống trong một thế giới mà tôi không coi đó là thế giới của mình, với nó tôi từ chối không nhìn nhận bản sắc của mình?" Agnès thấy có hai giải pháp: tình yêu hay nhà tu kín. Tình yêu: một từ bị ô uế, nhưng kinh nghiệm thì cực kỳ hiếm hoi. Không hiểu được nó, Agnès chỉ có một con đường: con đường mà cô gọi một cách hoán dụ là nhà tu kín. Âm thầm, cô đến sống biệt lập trong vùng núi Thụy Sĩ như Fabricedel Dango trong cuốn Tu viện thành Parme xưa kia. Nhưng vẫn còn một giải pháp thứ hai: Cái cách sống khác để sung sướng trong một thế giới mình không yêu mến. Đây là tình yêu, là giải pháp mà Chantal chọn lựa. Trong tình yêu, từ những thuở ban đầu thời Trung cổ, đã mang tính chất tà giáo, và Kundera muốn khám phá ra việc cái chất tà giáo đó đã có thể tồn tại như thế nào trong thời đại này.

Một câu chuyện thực trở thành một giấc mơ hủy diệt, và đây là bước đột phá mới về tiểu thuyết của ông, một nhà văn đang được ngưỡng mộ.

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn



Xem thêm về Milan Kundéra:

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do;jsessionid=75E880247059415333737493CC440EC0?action=show&authorId=490

http://www.tienphong.vn/Van-Hoa/193600/Milan-Kundera-o-Viet-Nam.html

http://gass.edu.vn/vi/news/Bao-ve/Quan-niem-cua-Milan-Kundera-ve-tieu-thuyet-qua-ly-luan-va-thuc-tien-sang-tac-64/

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Miguel Asturias

Nếu anh viết truyện chỉ để giải trí thì hãy đốt chúng đi! Hãy thành kính nghe thông điệp này, vì nếu anh không đốt thì truyện của anh cũng sẽ bị xóa bỏ trong kí ức của nhân dân, nơi mà các nhà thơ nhà văn đều mong có chỗ cho mình. Hãy thử tưởng tượng xem, xưa nay có bao nhiêu người đã viết để giải trí! Bây giờ còn ai nhớ đến họ nữa? Ngược lại, thật là dễ dàng nhắc lại tên của những người trong số chúng ta đã viết để làm chứng nhân. - M. Asturias


Nhà văn Guatemala Miguel Ángel Asturias
Giải Nobel văn chương năm 1967


Miguel Asturias sinh tại thủ đô Guatemala, trong một gia đình tri thức. Ông là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà ngoại giao nổi tiếng người Guatemala, tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ: Ngài tổng thống (The President, 1946). Ông được xem là người góp phần quan trọng trong việc đưa văn học Mĩ Latin vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Suốt cuộc đời, Asturias gần như phải sống lưu vong ở nước ngoài vì ông luôn bất hòa và cực lực phản đối các thế hệ độc tài ở Tổ quốc mình.

Asurias là con của luật sư Ernesto Asturias, một người mang tư tưởng nhân văn tiến bộ. Mẹ ông là một giáo viên. Do bất đồng với tổng thống đương nhiệm Estrada Cabrera, nên Ernesto từ chức công chứng viên và đưa gia đình về sống ở Salamá, nơi có trang viên của gia đình đằng nội. Salamá là vùng đất thơ mộng, đầy ắp những câu chuyện thần thoại, cổ tích. Miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn văn nhân của Asturias ngay thuở thiếu thời.

Lên chín tuổi, 
Asurias  cùng cha mẹ trở lại sinh sống tại ngoại ô thủ đô. Bố Asurias  hành nghề nhập khẩu đường và bột. Thuở bé, Asurias  được chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm của gia đình và xã hội.

Năm 1917, 
Asurias  vào đại học. Ông theo học ngành y một năm, sau đó chuyển sang nghiên cứu luật. Với tư cách là đại diện cho Hiệp Hội Sinh viên các trường đại học, ông đến Honduras và El Salvador. Năm 1921, Asurias  được cử làm một trong những phát ngôn viên của Guatemala đến Mexico dự Hội nghị sinh viên quốc tế.

Năm 1923, 
Asurias  nhận bằng cử nhân luật tại Đại học San Carlos. Ông sang châu Âu để tiếp tục sự nghiệp học tập, nghiên cứu. Mặc dù ước muốn của cha ông là hướng ông theo ngành kinh tế nhưng Asurias  lại theo học ngành nhân chủng học dưới sự dạy dỗ của Georges Raymond tại đại học Sorbonne ở Paris từ năm 1923 đến 1928. Thời gian nàyAsurias  bắt đầu dịch các tác phẩm của người Maya sang tiếng Pháp. Asurias  rất yêu thích và am hiểu văn hóa Maya. Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của nền văn học này sang tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh việc dịch thuật, ông còn sáng tác thơ và truyện. Tác phẩm của ông thường phản phất chất hư ảo, huyền hoặc của nền văn hóa Maya. Asurias  sống ở Paris suốt mười năm.

Năm 1930, danh tiếng đến với 
Asurias  khi ông cho xuất bản cuốn Truyền thuyết Guatemala (Legends of Guatemala). Cuốn sách được ông kể lại dựa trên các truyền thuyết của người Maya cổ. Đây là những truyện cổ mang tính hoang đường, được viết theo lối thơ trữ tình Tây Ban Nha. Ba năm sau, Asurias hoàn thành cuốn Ngài tổng thống. Cuốn sách dẫu không được in do chủ đề kẻ độc tài Mĩ Latin được ông thể hiện tài tình, sắc nét nhưng nó vẫn được bí mật lưu truyền trong giới trí thức suốt 13 năm cho đến khi ra đời (năm 1946). Cuốn sách tái hiện sự hối lộ, tham nhũng lan tràn khắp đất nước. Cái ác, cái xấ hoành hành. Cánh sĩ quan quân đội thì suốt ngày chui đầu vào các nhà chứa hoặc hoạch định các âm mưu nham hiểm... Asurias đã hư cấ tội ác của chế độ độc tài đến mức huyền thoại.

Trở về Guatemala vào năm 1933, Asturias làm phóng viên cho một hãng truyền thanh. Những năm 1940, ông bước vào sự nghiệp ngoại giao và sống ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ năm 1945 - 1947, ông giữ nhiều chức vụ ngoại giao ở Mexico. Từ năm 1947 - 1952, 
Asturias ở Buenos Aires. Từ 1952 - 1953 ông sống ở Paris. Một năm sau, ông làm đại sứ tại El Salvador. Năm 1950, Asturias li dị người vợ đầu Clemencia Amado và cưới Blanche de Mora y Aruaho. Công việc ngoại giao của Asturias bị gián đoạn khi phe cánh hữu của Carlos Armas lên nắm chính quyền vào năm 1954, ông phải lưu vong ra nước ngoài.

Năm 1949, tác phẩm Người ngô (Men of Maize) của 
Asturias được in. Cuốn sách cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa ông với truyền thống văn hóa Maya cổ đại. Maize, tiếng Tây Ban Nha maiz có nghĩa là ngô, chất liệu để Thượng đế khai sinh ra con người trong thần thoại Maya. Tác phẩm miêu tả cuộc nổi dậy của một bộ lạc da đỏ trong bầu không khí huyền ảo, ma thuật của người da đỏ.

Được xem là một trong những kiệt tác của 
Asturias, Người ngô được cấu trúc gồm sáu phần. Mỗi phần khai thác một khía cạnh tương phản trong tập quán của người da đỏ với xã hội đang hiện đại hóa và phát triển nhanh. Cuốn tiểu thuyết khám phá thế giới huyền ảo của các cộng đồng bản địa. Đề tài mà Asturias rất đam mê và nắm chắc. Nội dung sách tập trung vào cuộc nổi dậy của một bộ tộc da đỏ sinh sống nơi vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở và đang đối đầu với nguy cơ bị quân đội chính phủ xóa sổ. Cốt truyện xoay quanh cộng đồng người ngô đó nơi đất đai của họ có nguy cơ bị tàn phá. Phần hai của cuốn tiểu thuyết tái hiện một khung cảnh khác thông qua việc giới thiệu nhiều nhân vật mới. Thế hệ người da đỏ tiếp theo tiếp xúc với các bậc tiên tổ trong quá khứ và họ đã đi đến quyết định nỗ lực tranh đấu để duy trì truyền thống của tổ tiên họ.

Câu chuyện bộc lộ thái độ phê phán của 
Asturias trước việc chủ nghĩa đế quốc phương Tây có thói quen thống trị và cưỡng bức các nền văn hóa Mĩ Latin và nhiều nơi khác trên thế giới đi theo văn hóa của mình. Asturias sử dụng sự hiểu biết rộng rãi của mình về văn học để kể câu chuyện dưới hình thức thần kì. Với cách tái hiện cuộc sống độc đáo đó nên ngay khi ra đời, các nhà phê bình không tỏ ra mặn mà lắm về nó.

Những năm 1950, 
Asturias bắt tay vào sáng tác tác phẩm Bộ ba Chuối (The Banana Triology), bao gồm: Dông tố (The Cyclone, 1950), Giáo Hoàng xanh (The Green Pope, 1954) và Mắt người đã khuất (The eyes of the Interred, 1960) tố cáo tội ác của Công ti hoa quả Hoa Kỳ. Năm  1956, ông cho in tập truyện ngắn Cuối tuần ở Guatemala (Weekend in Guatemala) đề cập đến sự can thiệp của Hoa Kì trong việc lật đổ chính phủ Arbenz năm 1954. Sau biến cố lịch sử này, ông sống ở Chile rồi sang Brazil làm phóng viên cho tờ Quốc gia của Venezuela. Năm 1966, tổng thống Julio Mendez lên nắm quyền, Asturias được cử làm đại sứ ở Pháp.
Những năm cuối đời, Asturias sống ở Madrid. Ông chết khi đang đi thỉnh giảng vào ngày 9-6-1974. Thi hài ông được mai táng ở nghĩa trang Cha Lachaise. Với tất cả những đóng góp to lớn cho dân tộc và cho nhân loại, Asturias được trao tặng giải thưởng Lê-nin về hòa bình vào năm 1966 và giải Nobel văn chương năm 1967.

Sau khi nhà văn qua đời, chính phủ Guatemala thành lập giải thưởng văn học mang tên Miguel Angel Asturias. Tên ông cũng được lấy đặt cho hai nhà hát quốc gia của Guatemal. Nhân loại nhớ đến ông với tư cách là người có niềm tin vĩnh hằng vào sự bất tử của văn hóa bản địa ở Guatemala. Văn học Mĩ Latin ghi nhận vị trí mở đường của ông cho nền văn chương khu vực.

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & Gabriel García Márquez - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Milan Kundéra

Milan Kundéra và sứ mệnh của tiểu thuyết
Hiện tượng Milan Kundéra
Những bài phát biểu đầu tiên Kundéra về các vấn đề lý luận văn học đã gây tiếng vang trong xã hội Séc. Năm 1955, trong tiểu luận Quanh những cuộc bàn cãi về di sản, ông đã hăng hái ủng hộ một cách đầy thuyết phục Vitezslav Nezval, người từng tuyên bố sẽ không có thơ thế kỷ XX, nếu thiếu Guillaume Apollinaire.

Nhưng bảo vệ phái tiền phong không phải là đề tài duy nhất trong bài viết của Kundéra. Ông khẳng định rằng trong văn học thế giới có chỗ cho mọi khuynh hướng khác nhau. Kundéra không đi theo sự phân chia thơ ra thành thơ truyền thống và thơ tiền phong, ông có các tiêu chí phân loại khác. Thứ thơ gần gũi nhất với mình ông gọi là "Thơ ca của cuộc sống trần thế": Rimbaud - Apollinaire - các nhà vị lai Nga - Nezval thời trẻ. Nhưng ông cũng thừa nhận các đại diện của thứ thơ "triết học tư tưởng" mà ông xếp vào đó Mallarmé - Valéry - Rilke - Pasternak, thừa nhận thứ thơ chính trị bậc cao. Luận điểm chính trong quan niệm của ông là trên cơ sở những thành tựu đã cần phải tiến tới sự tổng hợp: "... nghệ thuật của chúng ta đang dần dần bước vào một thời đại lịch sử rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển mới".

Vào những năm đó, Kundéra bắt đầu giảng dạy văn học thế giới ở Viện Hàn lâm điện ảnh Praha, nơi trong số các thính giả của ông có nhà đạo diễn sau này nổi tiếng Milos Forman. Gắn với hoạt động giảng dạy này là cuốn chuyên luận của Kundéra: Nghệ thuật tiểu thuyết. Con đường của Vladislav Vanchura đi đến sử thi lớn (1960). Thông qua sự đối chiếu cuốn tiểu thuyết cỡ vừa của nhà văn lớn thuộc phái tiền phong Séc với kiểu tiểu thuyết Balzac, ông nêu lên quá trình tiến triển của thể loại tiểu thuyết - từ phác họa chân dung xã hội đến phản ánh con người riêng rẽ.

Nhưng tiểu thuyết mới là khu vực Kundéra dành được sự chú ý cần thiết. Những tác phẩm chính của ông gồm có Chuyện đùa (1967), Cuộc sống không phải ở nơi đây (1970), Nhẹ kiếp nhân sinh (1984), Sự bất tử (1990), Chậm rãi (1994) (mấy cuốn về sau được ông viết thẳng bằng tiếng Pháp, sau khi chuyển sang sống ở Pháp). Các bản dịch tiểu thuyết của Kundéra thuộc vào danh mục sách bán chạy và được trao nhiều giải thưởng uy tín không chỉ ở các nước Tây Âu, mà còn ở Mỹ - ở đấy đã có bốn tập chuyên khảo và một tập bài viết về sáng tác của ông, một bộ phim do không thành công và bị ông từ bỏ, nhưng hiển nhiên là đã góp phần thêm cho danh tiếng của Kundéra). Các sách của ông còn được dịch ra tiếng Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các thứ tiếng châu Á khác.

Về tiểu thuyết  Châu Âu
Tiểu thuyết đối với Kundéra - đó là tiểu thuyết châu Âu, ở đây thuật ngữ "châu Âu" chỉ thuộc về một kiểu văn minh nhất định. Lịch sử tiểu thuyết này ông dẫn từ Cervantes, đến Diderot người mà ông đặc biệt kính trọng, Balzac, Flaubert, Tolstoi, Joyce, còn trong thế kỉ XX ông tách riêng ra "truyền thống Trung Âu" được đại diện bởi những tên tuổi Kafka, Hasek, Broch, Musil, Gombrowiz. Hạt nhân quan niệm này là ở chỗ Kundéra xem tiểu thuyết không phải như một trong các thể loại văn học giữa các thể loại khác, mà như một phương pháp phức hợp nhằm nhận thức cuộc sống và đưa lại những kết quả nhiều khi còn đáng tin cậy hơn so với các nghiên cứu khoa học.

Khái quát kinh nghiệm tích cực của các nhà văn kể trên, hoặc của T.Mann, E.Hemingway và một số người khác, cũng như tiếp tục suy xét những bài học từ sáng tác của chính mình, Kundéra nêu lên những yêu cầu mà tiểu thuyết cần phải đáp ứng để có khả năng hoàn thành được sứ mệnh cao cả. Tiểu thuyết, theo Kundéra, thể hiện trong mình "tinh thần của phức tạp", "hiền minh của hoài nghi", nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người. Đối với ông, tiểu thuyết trước hết là "sự tổng hợp trí tuệ lớn", tự do thu nhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào: "Không cái gì có thể đưa ra suy luận mà lại bị loại ra khỏi nghệ thuật tiểu thuyết". Đó không phải là những đoạn tiểu luận ngoại đề, mà là tư tưởng mang tính động lực chung bao trùm tất cả, toát ra từ các tiểu thuyết giá trị.

Ông viết: "Các nhân vật trong các tiểu thuyết của tôi - đó là những khả năng riêng mà tôi không thực hiện được. Vì thế tôi yêu mén tất cả chúng như nhau và cũng kinh sợ chúng như nhau, mỗi người trong số các nhân vật đó đã bước qua giới hạn mà bản thân tôi chỉ dám đi vòng. Chính cái giới hạn này (giới hạn mà đằng sau đó cái "tôi" của tôi kết thúc) đã lôi cuốn tôi. Chỉ ở phía sau nó mới bắt đầu những bí ẩn mà tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết không phải là một thứ tôn giáo của tác giả, mà là sự nghiên cứu cuộc sống trong cái cạm bẫy do thế giới biến thành".

Điều làm Kundéra băn khoăn là độc giả hiện đại thích đọc các sách viết về những chuyện đồn đại của cuộc đời các nhà văn nổi tiếng, chứ không phải là các tác phẩm của họ. Theo ý ông, trong tiểu thuyết - "thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu" - tác giả, khi đưa ra những đòi hỏi, những quyết định có thể hay không thể của mình để thử thách các nhân vật đó, tỏ ra tự do và cởi mở hơn rất nhiều so với qua thư từ, nhật ký, hồi ức. "Trò chơi với các nhân vật hư cấu" không nhằm mục đích đạt đến sự giống như thật, nhưng cũng không mâu thuẫn với những sự tìm kiếm chân lý, ngược lại, nó kết hợp với những suy ngẫm tạo thành cơ sở của sự nghiên cứu theo kiểu tiểu thuyết đối với cuộc sống. Theo niềm tin của Kundéra, tiểu thuyết kiểu mới hầu như sẽ tự động mang theo vấn đề phức điệu. Ông nhấn đi nhấn lại bản chất tra vấn của  tiểu thuyết, khả năng hoài nghi tất cả của nó. Chính dựa vào đó, theo Kundéra, nhà tiểu thuyết mới có khả năng tiến sát đến việc khám phá ra điều bí ẩn duy nhất mà hắn phải quan tâm - "điều bí ẩn của hiện sinh mà chỉ hắn và nghệ thuật tiểu thuyết của hắn mới khám phá ra được".

"Sau Joyce, chúng ta đã biết rằng sự phiêu lưu lớn nhất trong cuộc sống đã chuyển biến vào bên trong con người". Các nhà phê bình coi câu nói của ông đó là "tín điều" của Kundéra, thán phục sự quan sát tinh tế và sâu sắc của ông.

Kundéra rất quan tâm đến việc dịch. Chẳng hạn ông đã có riêng một bài viết phân tích việc dịch một câu của Kafka ra các thứ tiếng khác nhau. Bài viết đó cũng không hẳn nói về việc dịch, mà là nói về đặc thù của nghệ thuật tiểu thuyết. Kundéra khuyên: phải đọc các tiểu thuyết thật chậm rãi, chăm chú. Tuy thừa biết rằng khó mà tìm được một người nào trên đời đọc sách lại không nhảy cóc từng trang, ông vẫn tin cần phải viết ra những cuốn tiểu thuyết đáng để đọc chậm.

Nhìn chung, Kundéra tin tưởng vào thiên chức xã hội, nhân văn cao cả của nghệ thuật tiểu thuyết. Khi đưa lại cho con người sự nhận thức phù hợp nhất về ý của sinh tồn, nó đối lập lại các phương tiện thông tin đại chúng - những cá không để cho con người đối diện với chính mình, tước mất của con người ký ức lịch sử, đè nén cá tính của con người: "Cuộc sống thường xuyên bị ngốn nuốt bởi các "sức manh thoái hóa" và công việc của nhà văn - đó là những nỗ lực Don Quichotte nhằm bảo vệ con người khỏi sự thoái hóa, là khát vọng tạo ra một thế giới tưởng tượng nhỏ bé có sự tươi mới của một câu hỏi bất ngờ".

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tôi đã được đọc Vô TriNhững mối tình nực cười của Milan 
Kundéra (bản dịch tiếng Việt) cách đây không lâu. Hai quyển sách đem lại cho tôi nhiều cảm xúc và suy tư. Trước đó người ta nhắc về ông ở mọi nơi: sách nghiên cứu văn học, báo chí, trò chuyện... vậy mà tôi không nhận thức được tầm vóc văn chương của nhà văn này. Giờ thì dĩ nhiên là không thể bỏ qua những tác phẩm cũng như những suy tư của một trong số những nhà văn vĩ đại nhất thế giới. Một điều đáng nói là trong khoảng thời gian đọc Vô tri, tôi cũng đã tiếp xúc tác phẩm của Paul Auster và Haruki Murakami. Có một chút trùng hợp ngẫu nhiên mang tính số phận mà tôi sẽ kể sau. Cả ba đều là những nhà văn tôi yêu thích nhất và lạ thay, cả ba chưa được nhận Nobel văn học dù luôn được đề cử. Có lẽ khuynh hướng của tôi là ưa thích những tác giả không-Nobel văn chương. :)