Hiển thị các bài đăng có nhãn tác giả. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tác giả. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

John Updike


Cây bút về đời sống Mỹ hiện đại

Người hầu bàn hỏi John Updike cần thứ thức uống nào? Với bao nhiêu nhà văn lớn của nước Mỹ trước đây và bây giờ, câu trả lời – vào lúc 4 giờ chiều – thường giống như đặt bữa tiệc Giáng sinh của hãng IBM cho quầy rượu. Nhưng John Updike chọn dùng trà. Cùng lúc đó, từ một chiếc bàn bên cạnh, người ta hỏi nhau: “Có phải John Updike đấy không nhỉ?” Sự trùng hợp này làm người ta nghĩ đến sự nổi tiếng và sự tàn tạ, những hình phạt của thành tựu văn học ở Mỹ. Các nhà phê bình, đặc biệt là người Anh, hay viết về những áp lực đặc biệt đối với các tác giả Mỹ: một sản phẩm của cường độ chung về văn hóa và sự khát khao của một đất nước về một nền văn hóa có bản sắc. Người ta có thể thống kê về nạn nghiện rượu, tự tử, suy sụp thần kinh, những bài diễn thuyết điên cuồng, về những vụ tranh cử…
Tại bữa trà này, một nhà phê bình văn học, Mark Lawson hỏi Updike: “Xem ra anh còn tỉnh để có thể tránh đi được cái bẫy đó”.
“Phải rồi”, Updike đáp, chặc lưỡi, “Tôi vẫn còn sống nhăn răng”.
“Và mắn đẻ nữa chứ”. Lawson tiếp. Đấy là cách nói nhún. Knoff, nhà xuất bản của Updike, vừa rồi đã phải thu nhỏ lại khổ chữ của trang giới thiệu tác phẩm cùng một tác giả trên sách của ông để có thêm chỗ cho tác phẩm mới. Đến nay không kể truyện viết cho thiếu nhi, tất cả là 36 cuốn gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, khảo luận và hồi ký. Cuốn thứ 37, Hồi ức về chính quyền Ford (một cái tên sách tư liệu ngụy trang cho cuốn tiểu thuyết thứ 15 của ông) xuất bản vào cuối tháng 3-1993.
Updike bình phẩm: “Quả thỏa đáng khi nói là tôi đã ý thức được về tình trạng ốm yếu của bao nhiêu nhà văn trước tôi. Về mặt lịch sử mà xét, rất hiếm những nhà văn không bị rệu rã từ tuổi 35. Do một số lý do. Trước hết, Mỹ là một xứ sở tôn vinh cái trẻ trung. Người ta có thể thấy rất rõ trong trường hợp Hemingway. Viết trước hết từ sức sống trẻ trung, về một thế giới ngây thơ vẫn mang những hạt sương mai. Nhưng đến lúc sương tan, thì cả tác giả lẫn độc giả đều có thể trở nên chua chát”.
Vẻ măt của Updike bao giờ cũng ánh lên sự nhanh nhạy, hóm hỉnh. Bởi thế, vào tuổi 60, nhà văn Mỹ này có cặp mắt vẫn còn ướt át. Độc giả của ông cũng thế: như thể để chứng minh rằng ngòi bút của ông không chịu tuân theo cái biểu đồ mà ông vừa nói – Updike đã nhận hai giải Pulitzer vào tuổi 50 và 59.
Hầu bàn mang trà tới. Như chơi vĩ cầm với dụng cụ dùng trà, ông tiếp tục: “Thế hệ ấy, hầu hết đối với nam giới họ uống quá nhiều. Đặc biệt là Faulkner, gây ấn tượng mạnh là Hemingway, còn Fitzgerald thì vô hồi kỳ trận..”. Khi nói, cũng giống như khi viết, một dấu ấn mang phong cách Updike là việc chọn và đặt vị trí của trạng từ và tính từ: một sự hòa trộn và chọn lọc sinh động và đầy nhịp điệu. “Bản thân tôi, tôi cho thật là vui khi tìm thấy cách kéo dài năng lực mình như Henry James đã làm. Từ 35 năm trước, tôi đã bắt đầu nghề nghiệp của mình giống như một nha sĩ hành nghề, có mặt nơi làm việc hàng ngày và đúng giờ giấc”.
Trong vòng 15 năm qua, ngày nào ông cũng viết ít nhất là 1.000 từ. Còn việc chọn thức uống cũng là có lý do của nó: sức khỏe của ông cần kiêng rượu vì bệnh suyễn và kiêng cà phê vì huyết áp cao. Như một hoán dụ, sở dĩ Updike cần phải uống trà vì như ông nói: “Hemingway đối với tôi là một nhà văn xuất sắc của Mỹ trong thế kỷ XX. Văn phong của ông là cái mà chúng ta mơ ước. Nhưng sai lầm của ông mà ta có thể rút ra là: sự cạn kiệt quá sớm, sự lạm dụng sức khỏe của mình, sự liều lĩnh trong cuộc sống cá nhân, và sự lo sợ viết về cái mà ta có thể gọi là đời thường. Ông đã tìm mọi cách để tránh những đề tài về cuộc sống hàng ngày của người dân Mỹ. Còn tôi thì lại bằng mọi cách lặn ngụp trong đó…”
Trên biểu đồ sự nghiệp của sự nghiệp John Updike, trước tiên người ta coi ông là một nhà thơ viết văn xuôi, tiếp đó là một nhà văn đi sâu vào tình dục, và gần đây nhất là một người ghi chép lịch sử hiện đại Mỹ.
Sinh năm 1932 tại Pennsylvania từ một gia đình gốc Hà Lan, cha ông là một giáo học, còn mẹ là một nhà văn hạng hai. John Updike là con một, còn Pennsylvania là một bang lúc đó mang tính chất thôn dã lỗi thời.
Hết phổ thông, Updike trở thành họa sĩ biếm họa, sau đó làm cho tờ New Yorker và viết hàng loạt truyện ngắn và tiếp đó cho ra đời tác phẩm Thỏ, chạy đi (Rabbit, run) (1960).
Tác phẩm này kể lại giai đoạn gieo neo về đời sống hôn nhân năm 1959 của Harry “Rabbit” Angstrom, một dân gốc Hà Lan lì xì ở Pennsylvania, là một người mà thời hoàng kim là ngôi sao bóng rổ tại một trường cao đẳng thời trẻ. Sau đó cứ 10 năm Updike lại trở lại với Rabbit: Rabbit trở lại (1971), Rabbit giàu có (1981) và Rabbit yên nghỉ (1990). Những truyện này chen nhau những cảnh ngộ của cuộc sống gia đình: lúc đi tắm, vợ Harry dìm chết đứa con gái trong những tình huống khả nghi, khả năng về một cô bồ đã đẻ cho ông ta một đứa con bất hợp pháp. Sự kiện và tâm trạng của người Mỹ trong 4 thập kỷ - các vị tổng thống, chiến tranh, những quan hệ tình dục, các thời thượng văn hóa. Tất cả cuốn lại với nhau như những dòng thời sự do một nhà thơ viết ra.
Vào giữa hai tập đầu, Updike đã tạo ra một sự nổi danh khác: một nhà văn lang thang về tình dục. Những cặp vợ chồng (1969) nói về quan hệ bộ tam, bộ tứ dưới thời Kennedy – và vì thế người ta mệnh danh ông là nhà văn “porno” về hôn nhân, dưới cách viết bóng bẩy. Chính vì thế, lời kết tội thực sự đối với Updike là giọng văn “chải chuốt đáng ngờ”. Trước tiên là do những câu văn đầy cá tính của ông ánh lên bằng những tính từ và những hình ảnh khiến chúng trở nên kiêu sa về hình thức hơn là hàm chứa về nội dung. Người ta cũng còn cho văn ông là quá trau chuốt.
John Updike, thường được ví như nhà văn De Sade về hôn nhân và nhà văn Carlyle về tình trạng suy thoái của Mỹ. Ông có một cảm quan đặc biệt thính nhạy. Mà quả tình, chứng khịt mũi của ông do bệnh suyễn hay cố tình làm cho chiếc mũi đẹp của ông cứ run rẩy khiến người ta cứ liên tưởng tới một cần ăng ten hay một chú thỏ. Với những chi tiết sinh động trong tác phẩm của ông, người ta có cái ấn tượng là đầu óc ông thường xuyên tiếp nhận các dữ kiện. Cái cảm giác về một nhà văn không bao giờ rời bỏ công việc của mình còn được nhấn mạnh bỏ cách trò chuyện của ông, cách ăn nói và miêu tả của ông.
Những hồi ức về chính quyền Ford là một tác phẩm thuộc giai đoạn sau và phóng túng của một tác giả lớn, cố tình kết hợp một chủ đề cũ với một nỗi ám ảnh cá nhân mơ hồ. Chủ đề thứ nhất là ngoại hình và những méo mó của một gia đình, chủ đề thứ hai là chính quyền của James Buchanan, một đảng viên lập lờ của đảng Dân chủ, là Tổng thống cuối cùng trước cuộc nội chiến Mỹ. Là một người sinh trưởng ở Pennsylvania, Updike đã luôn bị thu hút bởi vị tổng thống duy nhất xuất xứ từ bang này. Năm 1974, ông đã viết một vở kịch có tên là Buchanan đang chết.
Trong cuốn tiểu thuyết mới, nhân vật Alf Clayton, một học giả ở New Hampshire đang biên soạn (vào năm 1990) một tài liệu về những năm của chính quyền Ford – một con người làm phó tổng thống rồi tổng thống mà không hề được bầu vào các chức vụ đó. Tổng thống Ford thường được đi kèm với từ “pardon” (xin lỗi) mang tính chất một câu hỏi bởi vì ông ta chẳng hiểu gì mấy về vấn đề người ta đặt ra với ông. Updike nhận xét: “Tôi ngạc nhiên về việc mặc dầu chúng ta có tất cả 42 tổng thống, thì rất có thể ông ta là người đã bị bỏ quên. Khi tôi nói với người ta về cái tít của cuốn tiểu thuyết, họ thường mỉm cười, tưởng là tôi nhắc đến một câu nói đùa cũ…”
Khi biên soạn tài liệu này, Clayton lại thường bị ám ảnh bởi nội dung tư liệu về tiểu sử của Buchanna – cả hai đều là hai tổng thống bị quên lãng từng cai trị đất nước Mỹ vào những thời kỳ khủng hoảng. Những ký ức sâu đậm cảu Clayton thời chính quyền Ford còn là chuyện của ông ta, năm 1974, muốn từ bỏ vợ con để sống với một cô bồ. Điệu nghịch lý là mặc dầu Ford là một kẻ vụng về bị hất ra khỏi chiếc giường, nhưng thời cầm quyền của ông lại trùng hợp với thời đại đỉnh cao của người Mỹ đua nhau chui vào giường ngủ. Đây là trào lưu của thập kỷ 70, thời đại tiền-SIDA, và các vấn đề hạn chế sinh đẻ và bệnh hoa liễu – ít nhất là trong các tầng lớp trẻ - chưa nảy sinh. Theo Updike, những năm giữa thập kỷ này hé ra một cánh cửa sổ cho một cơ hội tình dục giữa việc tìm ra thuốc tránh thai và sự phát sinh bệnh SIDA.
Người ta có thể tự hỏi: Nếu trong một cuốn truyện về thời này, liệu Updike có cảm thấy buộc phải giới hạn trong sinh hoạt tình dục an toàn không? Updike liền vặn lại: Có người nào trong gia đình Rabbit dùng bao tránh thai không nhỉ? Mà thực, việc đó đã được nói đến trong tập truyện cuối cùng của bộ tứ tiểu thuyết về Rabbit. Và Updike kiêu hãnh nói: “Đấy anh thấy không, cái tình dục an toàn hiện đại có trong truyện của tôi rồi đấy!”.
Về bộ tiểu thuyết saga Rabbit, độc giả của ông có phần miễn cưỡng chấp nhận cái chết của nhân vật. Họ hy vọng rằng ông sẽ cho ra tiếp tập năm vào bước ngoặt của thế kỷ sắp kết thúc vì giống như nhân vật huyền thoại Elvis, đã không thực sự chết, và có thể cung cấp cho những hồi ức về chính quyền Clinton hiện nay. Tác giả có vẻ suy nghĩ và nói hình như quả là ông đã viết bộ sách này khá hơn những tác phẩm khác và cũng có thể do cách để viết cuốn thứ năm: một tác phẩm về đám tang của gia đình Angstrom, hay vấn đề người con gái có phải là con của Harry hay không đã bỏ ngỏ. Lập luận của ông là ông sẽ 67 tuổi vào kỳ hạn xuất bản tới của một cuốn sách về Rabbit và có rất ít tiền lệ lịch sử trong văn học Mỹ khi một tác phẩm hàng đầu lại được in ra vào cái tuổi của ông. Nhưng các tác phẩm thứ 38, 39 và 40 của Updike đang chuẩn bị in – một tuyển tập thơ, một loạt truyện ngắn và một tiểu thuyết lấy bối cảnh Braxin. Ông đã thách thức cái mẫu của đời sống sáng tác trong văn học Mỹ thành công đến mức mà chừng nào ông còn gắn với tách trà thì chừng đó khả năng sinh đẻ giống như loài thỏ của ông vẫn có thể đảm bảo cho việc tái tạo ra một thiên tiểu thuyết nữa về Rabbit.
Có những nhà văn như thế - Hà Vinh-Vương Trí Nhàn – Nhà xuất bản Hội nhà văn

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Milan Kundéra (2)

Từ trải nghiệm đến bản sắc

Tức thời, cuốn hút, những nhân vật đầy ám ảnh!

Nhà văn Tiệp lừng danh
Milan Kundéra
Đây là một cặp tình nhân, Jean-Marc và Chantal - chàng thì trẻ hơn nàng một ít - vừa âu yếm vừa đùa nghịch. Một bữa anh chàng bày ra một trò đáng ngờ để làm cho cô nàng tin vào khả năng mình có thể khơi dậy những tham muốn của những chàng trai khác. Quả là một sáng kiến chết người: kết cục anh chuốc lấy sự ghen tuông và giết chết những ý định ban đầu. Còn với cô Chantal, đàng sau cái mưu mô và cạm bẫy đó, đã nhen nhúm lên những ý nghĩ thù nghịc, hoàn toàn đi ngược lại cái ý đồ tốt đẹp đã khuyến khích người bạn tình của mình khởi xướng ra trò này. Từ nghi ngờ đến khinh ghét, một kết cục thật trớ trêu.

Một trò vui trở thành bi kịch, đây là tấm phim X quang mang chất bệnh viện về sự hiểu nhầm cơ bản gắn liền với những lứa đôi. Với những ai từng hâm mộ những cuốn sách của Kundera thì chuyện này không làm họ bỡ ngỡ. Cái có nguy cơ làm họ lạc hướng chính là cái hình thức mới của "thứ nghệ thuật tiểu thuyết" mà ông thực hiện ở đây, đặc biệt là sự biến mất hoàn toàn sự can thiệp của tác giả và những thể nghiệm riêng của ông để trở về với cái công thức thuần túy Kundera, đưa thiên truyện quay lại dòng chảy trước kia của ông. Ở đây, không chỉ những cảm nghĩ, những suy tư hiện sinh bị tước đi mà, đơn giản thôi, chúng được gắn liền với nhân vật (trong lời nói và những ý nghĩ thầm kín của họ). Ở đây có sự hoán vị khá thường xuyên giữa hai cách nhìn, hai giọng nói, hai cảm nghĩ. Từ đó người ta hiểu được tại sao mỗi con người trong hai nhân vật chính đó lại hiểu sai về người kia, không nhìn thấy được "bản sắc" thực sự của đối tượng, hiểu lầm về động cơ và dụng tâm của đối tượng mình. Tất cả những cái đó mở đầu cho việc dẫn dắt đến một kết cục bi đát.

Như vậy, người ta có thể suy luận rằng Kundera quay về với thứ tiểu thuyết tâm lý thuần túy và đơn giản chăng? Chẳng phải thế. Bởi vì cách kết cấu đó cũng phục vụ cho sự triển khai những tình huống trong đó đủ loại những chủ đề phụ thâm nhập vào. Chính là qua đó một cuốn tiểu thuyết sẽ làm cái chức năng mà Kundera luôn luôn gá cho nghệ thuật viết truyện: phát lộ cá phần sâu kín của sự trải nghiệm của con người vốn chỉ mình ông mới có thể làm cho nó bật ra một cách bất ngờ.

Vì hiểu rõ hơn bản thân các nhân vật (nhờ đi vào đời sống nội tâm được che giấu trong mỗi người), độc giả của Bản sắc (L'Identité), lập tức đặt mình vào trong cái ảo tưởng cho là mình chi phối được mọi tình huống mà thiên truyện gợi nên. Và rồi dần dần sự tin chắc ấy bị lung lay. Có những sự trượt ngang đầy bối rối, những sự trùng hợp lạ kỳ, khiến người ta bắt đầu liên tưởng đến nghệ thuât kết cấu (với thủ pháp "các mô típ tiếp nối" giữa các lớp tách biệt nhau một đặc trưng kết cấu thường có trong tiểu thuyết của Kundera), trước khi cảm thấy rằng cái đó dần dần biến đổi cả cái cách thức "giống như thật" đặt ra ngay từ đầu. Và người ta cũng bị cuốn đi một cách vô thức từ thế giới thực đến thế giới mê sảng, bất an, gần với thế giới của Kafka, lên tới đỉnh điểm trong những hồi lớp cuối. Những tiểu thuyết gia Mỹ Latin như Cortázar, Garcia Marquez, Fuentes đã làm cho chúng ta quen với sự cộng sinh trong cùng một thiên truyện giữa chủ nghĩa hiện thực và cái hoang tưởng.

Nhìn từ ngoài, ngòi bút của Kundera đã chuyển qua ba giai đoạn: Từ năm 1972, 4 tác phẩm được viết bằng tiếng Tiệp tại Tiệp Khắc, đến năm 1988 ba cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Tiệp, nhưng tại Pháp; và sau đó hai cuốn mới viết ở Pháp bằng tiếng Pháp.

Theo Kundera, mỗi một nhà viết tiểu thuyết xứng đáng với cái tên ấy thường tuân thủ hai điều luật: thứ nhất, chỉ nói những gì chưa nói ra; thứ hai, luôn luôn tìm kiếm một hình thức mới. Tuy nhiên, việc tìm kiếm hình thức mới có những giới hạn của nó. Để khỏi đánh rơi mất tính độc đáo của mình, người ta không thể vượt ra khỏi những giới hạn của chính bản thân mình. Đấy là lý do tại sao những hồi lớp cũ của Bản sắc viết bằng tiếng Pháp lại mang cái giọng điệu như những cuốn viết bằng tiếng Tiệp. Kundera nói: "Ngôn ngữ của tôi tìm cách trở nên đơn giản, chuẩn xác, gần như trong suốt, và nó muốn được như vậy trong bất cứ ngôn ngữ nào. Nhưng trước hết tôi nhấn mạnh đến điều này: nhà văn được quy định bởi một vòng ma thuật những chủ đề nào đó để biết ra được những bí ẩn hiện sinh đã ám ảnh suốt đờ họ và là lý do khiến họ cầm bút".

Cũng theo Kundera: "Tiểu thuyết Tiệp giống như hình thức của một bản sonate: một nhạc phẩm lớn có nhiều chương tương phản nhau. Với cuốn Sự bất tử (L'Imortalité) tôi đã đi đến tận cùng của hình thức này. Sau đó, đối với tôi chỉ còn là việc đóng cửa lại hay chuyển sang một hình thức mới. Sau đó nữa, khi tôi không chờ đợi, và với niềm vui hiếm hoi và một sự nhanh chóng hiếm hoi, tôi viết cuốn Sự chậm chạp (La Lenteur) và lập tức tôi đã thoát ra. Từ nghệ thuật sonate tôi đã đi vào nghệ thuật fugue (tấu khúc): khuôn khổ ngắn hơn, một nguyên khối có thể chia cắt, cũng cùng với chủ đề và mô típ không ngừng có mặt và không ngừng thay đổi. Tuy nhiên, những vấn đề cũ về mặt hình thức tiểu thuyết vẫn tồn tại, chẳng hạn làm thế nào hội nhập cái không thể xảy ra trong một cuốn tiểu thuyết được coi là sáng suốt? Làm thế nào để đưa cái không thể nhận thấ vào sự chuyển biến từ một hiện thực đến một giấc mơ"?

Ông từng nói nhiều đến cái vòng ma thuật của những chủ đề và lý do tồn tại của tác phẩm, việc khám phá những chủ đề lớn của sự tồn tại. Có khá nhiều chủ đề trong Bản sắc đã hiện diện trong những tác phẩm trước đó (như tình bạn, hiểu lầm, huyền thoại hóa) và một số nét mới (như âu lo, bên lề và bản sắc). Nhưng cái chủ đề xuyên suốt và cố kết tất cả lại trong Bản sắc là tình yêu, một tình yêu hết sức buồn cười.

Theo tác giả, Chantal của Bản sắc chính là người chị em bí mật của Agnès trong Sự bất tử. Agnès tự hỏi: "Làm sao có thể sống trong một thế giới mà tôi không coi đó là thế giới của mình, với nó tôi từ chối không nhìn nhận bản sắc của mình?" Agnès thấy có hai giải pháp: tình yêu hay nhà tu kín. Tình yêu: một từ bị ô uế, nhưng kinh nghiệm thì cực kỳ hiếm hoi. Không hiểu được nó, Agnès chỉ có một con đường: con đường mà cô gọi một cách hoán dụ là nhà tu kín. Âm thầm, cô đến sống biệt lập trong vùng núi Thụy Sĩ như Fabricedel Dango trong cuốn Tu viện thành Parme xưa kia. Nhưng vẫn còn một giải pháp thứ hai: Cái cách sống khác để sung sướng trong một thế giới mình không yêu mến. Đây là tình yêu, là giải pháp mà Chantal chọn lựa. Trong tình yêu, từ những thuở ban đầu thời Trung cổ, đã mang tính chất tà giáo, và Kundera muốn khám phá ra việc cái chất tà giáo đó đã có thể tồn tại như thế nào trong thời đại này.

Một câu chuyện thực trở thành một giấc mơ hủy diệt, và đây là bước đột phá mới về tiểu thuyết của ông, một nhà văn đang được ngưỡng mộ.

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn



Xem thêm về Milan Kundéra:

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do;jsessionid=75E880247059415333737493CC440EC0?action=show&authorId=490

http://www.tienphong.vn/Van-Hoa/193600/Milan-Kundera-o-Viet-Nam.html

http://gass.edu.vn/vi/news/Bao-ve/Quan-niem-cua-Milan-Kundera-ve-tieu-thuyet-qua-ly-luan-va-thuc-tien-sang-tac-64/

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Miguel Asturias

Nếu anh viết truyện chỉ để giải trí thì hãy đốt chúng đi! Hãy thành kính nghe thông điệp này, vì nếu anh không đốt thì truyện của anh cũng sẽ bị xóa bỏ trong kí ức của nhân dân, nơi mà các nhà thơ nhà văn đều mong có chỗ cho mình. Hãy thử tưởng tượng xem, xưa nay có bao nhiêu người đã viết để giải trí! Bây giờ còn ai nhớ đến họ nữa? Ngược lại, thật là dễ dàng nhắc lại tên của những người trong số chúng ta đã viết để làm chứng nhân. - M. Asturias


Nhà văn Guatemala Miguel Ángel Asturias
Giải Nobel văn chương năm 1967


Miguel Asturias sinh tại thủ đô Guatemala, trong một gia đình tri thức. Ông là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà ngoại giao nổi tiếng người Guatemala, tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ: Ngài tổng thống (The President, 1946). Ông được xem là người góp phần quan trọng trong việc đưa văn học Mĩ Latin vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Suốt cuộc đời, Asturias gần như phải sống lưu vong ở nước ngoài vì ông luôn bất hòa và cực lực phản đối các thế hệ độc tài ở Tổ quốc mình.

Asurias là con của luật sư Ernesto Asturias, một người mang tư tưởng nhân văn tiến bộ. Mẹ ông là một giáo viên. Do bất đồng với tổng thống đương nhiệm Estrada Cabrera, nên Ernesto từ chức công chứng viên và đưa gia đình về sống ở Salamá, nơi có trang viên của gia đình đằng nội. Salamá là vùng đất thơ mộng, đầy ắp những câu chuyện thần thoại, cổ tích. Miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn văn nhân của Asturias ngay thuở thiếu thời.

Lên chín tuổi, 
Asurias  cùng cha mẹ trở lại sinh sống tại ngoại ô thủ đô. Bố Asurias  hành nghề nhập khẩu đường và bột. Thuở bé, Asurias  được chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm của gia đình và xã hội.

Năm 1917, 
Asurias  vào đại học. Ông theo học ngành y một năm, sau đó chuyển sang nghiên cứu luật. Với tư cách là đại diện cho Hiệp Hội Sinh viên các trường đại học, ông đến Honduras và El Salvador. Năm 1921, Asurias  được cử làm một trong những phát ngôn viên của Guatemala đến Mexico dự Hội nghị sinh viên quốc tế.

Năm 1923, 
Asurias  nhận bằng cử nhân luật tại Đại học San Carlos. Ông sang châu Âu để tiếp tục sự nghiệp học tập, nghiên cứu. Mặc dù ước muốn của cha ông là hướng ông theo ngành kinh tế nhưng Asurias  lại theo học ngành nhân chủng học dưới sự dạy dỗ của Georges Raymond tại đại học Sorbonne ở Paris từ năm 1923 đến 1928. Thời gian nàyAsurias  bắt đầu dịch các tác phẩm của người Maya sang tiếng Pháp. Asurias  rất yêu thích và am hiểu văn hóa Maya. Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của nền văn học này sang tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh việc dịch thuật, ông còn sáng tác thơ và truyện. Tác phẩm của ông thường phản phất chất hư ảo, huyền hoặc của nền văn hóa Maya. Asurias  sống ở Paris suốt mười năm.

Năm 1930, danh tiếng đến với 
Asurias  khi ông cho xuất bản cuốn Truyền thuyết Guatemala (Legends of Guatemala). Cuốn sách được ông kể lại dựa trên các truyền thuyết của người Maya cổ. Đây là những truyện cổ mang tính hoang đường, được viết theo lối thơ trữ tình Tây Ban Nha. Ba năm sau, Asurias hoàn thành cuốn Ngài tổng thống. Cuốn sách dẫu không được in do chủ đề kẻ độc tài Mĩ Latin được ông thể hiện tài tình, sắc nét nhưng nó vẫn được bí mật lưu truyền trong giới trí thức suốt 13 năm cho đến khi ra đời (năm 1946). Cuốn sách tái hiện sự hối lộ, tham nhũng lan tràn khắp đất nước. Cái ác, cái xấ hoành hành. Cánh sĩ quan quân đội thì suốt ngày chui đầu vào các nhà chứa hoặc hoạch định các âm mưu nham hiểm... Asurias đã hư cấ tội ác của chế độ độc tài đến mức huyền thoại.

Trở về Guatemala vào năm 1933, Asturias làm phóng viên cho một hãng truyền thanh. Những năm 1940, ông bước vào sự nghiệp ngoại giao và sống ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ năm 1945 - 1947, ông giữ nhiều chức vụ ngoại giao ở Mexico. Từ năm 1947 - 1952, 
Asturias ở Buenos Aires. Từ 1952 - 1953 ông sống ở Paris. Một năm sau, ông làm đại sứ tại El Salvador. Năm 1950, Asturias li dị người vợ đầu Clemencia Amado và cưới Blanche de Mora y Aruaho. Công việc ngoại giao của Asturias bị gián đoạn khi phe cánh hữu của Carlos Armas lên nắm chính quyền vào năm 1954, ông phải lưu vong ra nước ngoài.

Năm 1949, tác phẩm Người ngô (Men of Maize) của 
Asturias được in. Cuốn sách cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa ông với truyền thống văn hóa Maya cổ đại. Maize, tiếng Tây Ban Nha maiz có nghĩa là ngô, chất liệu để Thượng đế khai sinh ra con người trong thần thoại Maya. Tác phẩm miêu tả cuộc nổi dậy của một bộ lạc da đỏ trong bầu không khí huyền ảo, ma thuật của người da đỏ.

Được xem là một trong những kiệt tác của 
Asturias, Người ngô được cấu trúc gồm sáu phần. Mỗi phần khai thác một khía cạnh tương phản trong tập quán của người da đỏ với xã hội đang hiện đại hóa và phát triển nhanh. Cuốn tiểu thuyết khám phá thế giới huyền ảo của các cộng đồng bản địa. Đề tài mà Asturias rất đam mê và nắm chắc. Nội dung sách tập trung vào cuộc nổi dậy của một bộ tộc da đỏ sinh sống nơi vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở và đang đối đầu với nguy cơ bị quân đội chính phủ xóa sổ. Cốt truyện xoay quanh cộng đồng người ngô đó nơi đất đai của họ có nguy cơ bị tàn phá. Phần hai của cuốn tiểu thuyết tái hiện một khung cảnh khác thông qua việc giới thiệu nhiều nhân vật mới. Thế hệ người da đỏ tiếp theo tiếp xúc với các bậc tiên tổ trong quá khứ và họ đã đi đến quyết định nỗ lực tranh đấu để duy trì truyền thống của tổ tiên họ.

Câu chuyện bộc lộ thái độ phê phán của 
Asturias trước việc chủ nghĩa đế quốc phương Tây có thói quen thống trị và cưỡng bức các nền văn hóa Mĩ Latin và nhiều nơi khác trên thế giới đi theo văn hóa của mình. Asturias sử dụng sự hiểu biết rộng rãi của mình về văn học để kể câu chuyện dưới hình thức thần kì. Với cách tái hiện cuộc sống độc đáo đó nên ngay khi ra đời, các nhà phê bình không tỏ ra mặn mà lắm về nó.

Những năm 1950, 
Asturias bắt tay vào sáng tác tác phẩm Bộ ba Chuối (The Banana Triology), bao gồm: Dông tố (The Cyclone, 1950), Giáo Hoàng xanh (The Green Pope, 1954) và Mắt người đã khuất (The eyes of the Interred, 1960) tố cáo tội ác của Công ti hoa quả Hoa Kỳ. Năm  1956, ông cho in tập truyện ngắn Cuối tuần ở Guatemala (Weekend in Guatemala) đề cập đến sự can thiệp của Hoa Kì trong việc lật đổ chính phủ Arbenz năm 1954. Sau biến cố lịch sử này, ông sống ở Chile rồi sang Brazil làm phóng viên cho tờ Quốc gia của Venezuela. Năm 1966, tổng thống Julio Mendez lên nắm quyền, Asturias được cử làm đại sứ ở Pháp.
Những năm cuối đời, Asturias sống ở Madrid. Ông chết khi đang đi thỉnh giảng vào ngày 9-6-1974. Thi hài ông được mai táng ở nghĩa trang Cha Lachaise. Với tất cả những đóng góp to lớn cho dân tộc và cho nhân loại, Asturias được trao tặng giải thưởng Lê-nin về hòa bình vào năm 1966 và giải Nobel văn chương năm 1967.

Sau khi nhà văn qua đời, chính phủ Guatemala thành lập giải thưởng văn học mang tên Miguel Angel Asturias. Tên ông cũng được lấy đặt cho hai nhà hát quốc gia của Guatemal. Nhân loại nhớ đến ông với tư cách là người có niềm tin vĩnh hằng vào sự bất tử của văn hóa bản địa ở Guatemala. Văn học Mĩ Latin ghi nhận vị trí mở đường của ông cho nền văn chương khu vực.

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & Gabriel García Márquez - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Le Clézio

"Cả thiên hạ đều ngây thơ" - Le Clézio
Tôi chưa hề biết chút gì về nhà văn Pháp này ngoại trừ điều đáng chú ý nhất là ông được vinh danh giải Nobel văn chương năm 2008. Khi ấy tôi khá trẻ, sự quan tâm văn học không rõ rệt như bây giờ. Phải nói là tôi trưởng thành muộn trong nhận thức văn học, một điều rất đáng tiếc. Giờ đây, tôi không còn thành kiến với Nobel văn chương nữa, tôi sẽ đọc những nhà văn đạt giải đó với sự thèm khát văn chương của mình. Vậy là tôi đã mua về một quyển tiểu thuyết của Le Clézio, mới in đây thôi. Tiện dịp một người bạn đưa cho đọc một quyển chân dung các nhà văn của Hà Vinh và Vương Trí Nhàn, gõ lại vào máy tính để về sau dễ tham khảo.

Le Clézio và hành trình tìm kiếm bản sắc
Trong số mấy chục tác phẩm của ông, có đến 22 tác phẩm in ra từ NXB Gallimard. Sau Procès-Verbal đoạt giải Renaudot, các tác phẩm Désert (Sa mạc) năm 1980 và Mondo et Autres Histoires (Mondo và những truyện khác) (1978) được in ra 5 vạn bản. Có 5 tác phẩm vượt qua con số 30 vạn bản.


"Chắc là hắn ta lạc lối trong hành lang rồi!" họ đoán vậy. Nhưng ngôi nhà xuất bản này ở Paris thì Jean Marie Gustave Le Clézio chẳng lạ lẫm gì. Năm 1963, những bức tường nhà xuất bản Gallimard đã vang lên tiếng nổ của thiên tiểu thuyết đầu tay của Le Clézio. Giải Renaudot trao cho tác giả cuốn Procès-Verbal (Biên bản) khi mới 23 tuổi.

Con người được hâm mộ từ thập kỉ 60 đó bây giờ đã ra sao? Với cách ăn mặc tuềnh toàng, mái tóc sáng cắt ngắn và cặp mắt thiên thần xứ Flandre, người ta có cảm giác Le Clézio không hề thay đổi. Chính ông từng nói: "Cho đến năm 30 tuổi, người ta vẫn còn là vị thành niên".


Nhà văn có một vị trí đáng kính trong văn học không lây nhiễm không khí thời đại. Le Clézio vẫn cứ là chàng trai tóc vàng không suy suyển, người thả mình theo những mộng mơ trên bờ các đại dương, vượt qua những hoang mạc để tìm kiếm một chân trời luôn luôn lẩn trốn, một dấu chân mơ hồ từng in lên mặt cát của những bộ lạc đã tiêu vong, những dân du cư lang thang từ Mexico đến Panama, hay từ hòn đảo Maurice đến Maroc. Dưới cái vẻ ngoài khắc khổ, con người này vẫn đầy nét thanh xuân, giữ tính giản dị và hồn nhiên của tuổi trẻ và cả cuộc sống phiêu bạt để thỏa mãn niềm khao khát tự do như một cánh chim trời.

Le Clézio đã trôi nổi với những chuyến viễn du kéo dài: 10 năm ở Mexico và cũng chừng ấy năm ở Mỹ. Cắm neo ở Albuquerque ở New Mexico, nhưng ông không hề bỏ ý tưởng tiếp tục cuộc hành trình của một chàng trai Robinson: quay về hòn đảo Maurice, mảnh đất cội nguồn của gia đình, rồi Ấn Độ và cả Úc. Đấy là một nhà văn của sự chuyển tiếp, của xê dịch, không ở chỗ này cũng không ở chỗ kia, của mảnh đất không người, chập chờn ẩn hiện như một bóng ma.


Cái ưu thế của bóng ma là nó không già đi với năm tháng mà nó trải qua. Le Clézio, với những cuộc săn tìm ngược dòng đời, một cách nào đó cũng là một bóng ma.


Nhưng Le Clézio cũng thú nhận: "Lúc nào cũng chuyển dịch. Việc đó không dễ dàng chút nào đối với những đứa con gái của tôi. Đứa đầu đang theo học ở Paris".


Phải chăng đấy cũng là vết thương của một người không ngừng tố cáo văn minh thành thị? Quả là thế, nhưng đối với ông, cái hình mẫu Pháp chưa đến nỗi là cái tệ hại nhất trong mô hình tồn tại. Con người xa xứ này thú nhận: "Tôi thiếu vắng âm thanh tiếng mẹ đẻ. Khi về đây, tôi thích thú tìm thấy lại sự vang vọng văn hóa đặc trưng của nước Pháp".


Vợ ông, Jemia, là hậu duệ của một tộc người du cư Aroussiyines. Cách đây 2 năm, hai người đã đặt chân đến thung lũng Sông Đỏ ở miền Nam Maroc - mảnh đất của tổ tiên bà. Mớ bòng bong về gốc gác chồng chéo nhau và những sự lai giống đó, Le Clézio đã không ngừng mày mò để gỡ cho ra đầu dây mối nhợ. Cha ông là người dân đảo Maurice (giữa Ấn Độ Dương) và mẹ là người Pháp. Ông kể lại: "Tuổi niên thiếu của tôi đã trôi qua không dễ dàng. Tôi trải qua khủng hoảng về bản sắc và khó khăn khi chấp nhận những người khác. Tôi ít nói".


Thế nhưng ông lại hay viết. Vào tuổi lên 7, trên chiếc tàu chở đến Nigieria để gặp gỡ cha mình, Le Clézio đã sửa chữa mẩu ký đầu tiên đầu đề là Một chuyến đi dài
. 52 năm sau, với hơn 25 tiểu thuyết (không kể những cuốn sách viết cho thiếu nhi và những truyện tranh), Le Clézio vẫn không bỏ bút.

Cuốn tiểu thuyết mới nhất Hasard (Ngẫu nhiên) in cùng với một truyện ngắn khác Angoli Mala viết trước đó 15 năm, như muốn chỉ ra cho những người trách móc ông đã thay đổi, rằng ông vẫn thế thôi. Tuy truyện Hasard
có phần lạc quan hơn và hai truyện này khi mới đọc có vẻ thật xa lạ với nhau, nhưng về cơ bản vẫn cùng một thứ nhạc điệu ấy, một thứ âm nhạc của Fugue và đối điểm của nó, những nẻo đường phiêu du từng quen thuộc với người đọc.

Lần này là Nassima. Từ bến càng Villefranche, cô gái này đã hóa trang thành con trai lên xuống chiếc thuyền buồm của Juan Moguer, một đạo diễn hết thời, để vượt Đại Tây Dương đến tận thế giới bên kia, hy vọng tìm lại gốc gác của mình và những kỷ niệm của người cha, một thầy thuốc quần đảo Antilles đã mất tích không để lại địa chỉ. Cái mà nhân vật nữ này "ngẫu nhiên" phát hiện ra sau khi người ta mở khoang thuyền nơi cô ẩn nấp là sự huy hoàng tinh khôi của biển cả, giống như một khải thị. Thực tế đó không phải là cách đích của chuyến đi mà chính là cuộc hành trình.


Còn Angoli Mala thì nói lên một bài học khác, kể lại sự trở về xứ sở của một chàng trai da đỏ do một mục sư Mỹ da đen nuôi dạy ở Panama. Rồi cái mà anh ta tìm thấy không phải là vẻ huy hoàng của nguồn cội được tưởng tượng và những huyền thoại về nó, mà là một lớp người bị rượu chè hành hạ và sống trong cảnh đói khổ tối tăm của kiếp nô lệ. Đối với anh, phải làm một chuyến đi thực sự, trong thế giới nội tâm, để tìm kiếm sự bình an và khuây khỏa trong sự trống vắng. Và đây là một hành trình đau xót và huy hoàng hướng đến cái câu hỏi vĩnh hằng, câu hỏi mà chỉ những nhà hiền triết, dửng dưng trước những bọt bèo và những tháng năm, mới có gan đặt ra: Con người tồn tại để được cái tích sự gì?


Con người lưu đãng này đã gặp Nassima nàng thơ của mình ở Panama trong những năm 70, vào dịp ông sống với người Mỹ da đỏ ở châu Mỹ. Le Clézio nói: "Đấy là sự lai giống giữa người da đỏ và da đen sống ngoài lề hai cộng đồng người. Đối với tôi, việc này trở thành một nguyên mẫu, một loại phụ nữ lẫn trốn, thuộc những nền văn hóa khác nhau. Tôi không tin là Eva chỉ có một nguồn gốc. Cuối cùng có thể là tôi muốn miêu tả về Eva (thủy tổ loài người)". Và ông cười về sự táo tợn của mình. Cái đẹp nguyên sơ, sự hoài nhớ khôn nguôi về một thế giới, một di sản đã mất đi - thiên truyện Hasard của ông dẫn người đọc đến với những cái đó như một nỗi ám ảnh. Nếu trong Hasard, văn phong của ông vẫn trần trụi, tinh lọc chính là để làm tôn lên vẻ đẹp của cái "không có tên, không dấu vết, không thuộc về ai, không có lịch sử và bao giờ cũng mới mẻ". Đó là đại dương.

Le Clézio nói: "Tôi có sự gắn bó cơ thể với biển cả. Trí tuệ tôi không cho phép tôi trở thành một thủy thủ. Hơn nữa tôi cũng không chắc mình có thể chịu đựng nổi công việc lao dịch của một hoa tiêu, của thói ma cũ bắt nạt ma mới và tinh thần hợp tác. Tôi không có tàu. Nhưng từ trực giác tôi tin rằng sự gắn bó đó có thể xâm chiếm con người tôi".

Vào tuổi 59, với một ý thức thường trực  gần như ngoan cố, Le Clézio đã không ngừng mong mỏi thoát ra khỏi những ràng buộc của cuộc đời. Ông chạy trốn. Ông tìm tòi cách làm thế nào đưa những cái cốt lõi vào cuộc sống thường nhật, bất kể những gì đã xâm chiếm ông, khiến ông trở thành một kẻ mộng mơ hiền lành, một kẻ "dã man vô hại" hay một nhà sinh thái học ngây thơ.

Le Clézio nói: "Cả thiên hạ đều ngây thơ. Đấy là sự ngây thơ tin vào sự tiến bộ, ngây thơ tin vào sự mới mẻ của nghệ thuật, ngây thơ tin vào Chúa Trời. Lúc 30 tuổi, tôi cảm thấy người ta đang đứng trước sự kết thúc một cái gì đó. Thực tế, đấy là sự kết thúc của thế giới chúng ta. Với tuổi tác, tôi đã tìm lại con người mình. Tôi trở nên ít bi quan hơn".

Ông còn muốn tin vào cái điều rằng: "tinh thần thanh xuân có thể cứu vớt thế giới".

Quả tình, thường người ta bỏ đi để rồi trở lại với cái cốt lõi nhất.

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn

Xem thêm về Le Clézio:


http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Van-hoc/286873/Jean---Marie-Gustave-Le-Clezio-Khong-co-nhung-bien-gioi.html


http://vienvanhoc.org.vn/reader/?id=753&menu=74&s=Le+Cl%C3%A9zio

http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=672

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=7704

Italo Calvino (3)

Italo Calvino trên cây – Thế giới nhìn thế giới!


Những trào lộng và triết lý, những ma ảo pha hiện thực, bút pháp thử nghiệm mang tố chất kinh điển, những hoang đường ôm ấp khoa học… đã làm nên Italo Calvino, một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi.
Italo Calvino (1923 – 1985) sinh tại Cuba và mất tại Ý. Trải qua gần bốn thập kỷ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình… Calvino để lại quá nhiều kiệt tác. Từ tiểu thuyết tân hiện thực đầu tay là Đường đến tổ nhện đến bộ ba tác phẩm dụ ngôn về tổ tiên: Tử tước bị chẻ đôi, Nam tước trên cây, Hiệp sĩ không hiện hữu… Từ tiểu thuyết về vũ trụ Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) đến trò chơi tự sự kỳ ảo Những thành phố vô hình. Từ “siêu tiểu thuyết” Nếu đêm đông một lữ khách đến mô hình Palomar… Tất cả những tác phẩm ấy đều mở rộng tầm nhìn của ta về vũ trụ và đời sống, tâm linh và sự vật.

Vài điểm nhấn

Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) là tập truyện pha trộn khoa học (cosmos, vũ trụ) với trào lộng (comics). Sự hình thành vũ trụ, tốc độ ánh sáng, sự tiến hoá của con người, cuộc tuyệt diệt của loài khủng long… được kể qua nhân vật biến ảo xuyên thời gian và không gian là Qfwfq, biểu hiện những hình tướng khác nhau của sự sống như nguyên tử, loài nhuyễn thể, khủng long, con người…
Như truyện đầu tiên Khoảng cách của trăng, trăng gần trái đất đến nỗi mỗi tháng con người leo lên trăng để lấy sữa trăng. Và tình yêu đã thu hút lên trăng ít nhất là hai người…
Những thành phố vô hình, tiểu thuyết về những thành phố mộng ảo mà Marco Polo diễn tả (cho đại đế Hốt Tất Liệt) từng gặp trong những chuyến du hành. 55 thành phố, cái nào cũng huyền bí, hư ảo thuộc vào những phạm trù như hoài niệm, dục vọng, ký hiệu, con mắt, cái tên, cái chết, bầu trời… Tiểu thuyết không có hành động, không phát triển. Chỉ có những vấn nạn thiên thu về đời sống và cái chết, thực và ảo, bản chất của ngôn ngữ, địa đàng và ác mộng…
Nếu đêm đông một lữ khách là một thành công quốc tế trong sáng tác thử nghiệm của Italo Calvino. Tiểu thuyết viết theo ngôi thứ hai: mi. Mi mua một quyển truyện mang tênNếu đêm đông một lữ khách của Italo Calvino. Nhưng gặp phải một cuốn sách đóng nhầm. Mi gặp nàng Ludmilla xinh đẹp cũng có một bản đóng nhầm như thế. Cả hai đi tìm bản gốc thì lại gặp tác phẩm của một nhà văn Ba Lan. Rồi lại mười chương mở đầu của mười tiểu thuyết thuộc các thể loại khác nhau như trinh thám, erotica của Nhật, truyện ma, truyện huyền bí… cứ như là trò tinh nghịch của một dịch giả bất thường nào đó. Cuối cùng, Mi và Ludmilla yêu nhau, cùng nhau đọc tiểu luận của Calvino về sự đọc và sự viết.

Vài tác phẩm dịch sang tiếng Việt

Ngoài tiểu luận Sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ tới do Cao Việt Dũng dịch (đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài), chỉ có vài tiểu thuyết được chuyển ngữ sang tiếng Việt:Palomar, Vũ Ngọc Thăng dịch, NXB Hội nhà văn, 2004; Nếu đêm đông một lữ khách, Ngự Thuyết dịch (đăng trên Giai phẩm chủ đề); và một số truyện ngắn trong các tuyển tập, trên mạng.
Tác phẩm của Italo Calvino bắt đầu từ một điểm nhìn, từ những điểm nhìn khác nhau. Đó là cái nhìn của tự do chọn lựa. Nhưng dẫu sao đi nữa, theo Italo Calvino, vẫn là cái nhìn của “thế giới nhìn thế giới”.
Trong Palomar, ông viết: “Có cái cửa sổ hướng ra thế giới. Phía kia là thế giới, thế còn phía này? Vẫn là thế giới: bạn muốn nó là gì khác bây giờ… Cũng thế giới, nhân cơ duyên này, chia đôi thành một thế giới đang nhìn và một thế giới đang được nhìn… Chẳng phải chính anh cũng là một mảng của thế giới, đang nhìn một mảng khác của thế giới? Hoặc giả, cho rằng có một thế giới bên này và một thế giới bên kia cửa sổ, thì cái tôi có lẽ chính là cái khung cửa sổ qua đó thế giới nhìn thế giới” (bản dịch của Vũ Ngọc Thăng).
Đó là một cái nhìn gần như vô ngã.
Cái nghịch lý mà nhân vật của Calvino thường cuốn theo là làm sao có thể tự do đối với thế giới nhưng vẫn thuộc về thế giới.
Nam tước trên cây
Trong Nam tước trên cây, tác phẩm vừa được giới thiệu đầy đủ ở Việt Nam, ta được làm quen với một nhân vật như thế, chàng nam tước trẻ tuổi Cosimo.
Kiệt tác tiểu thuyết này, Calvino viết vào năm 1957, toả ra một làn không khí vừa kỳ ảo thần tiên như những phiêu lưu của cô bé Alice, vừa trầm tư triết lý như những tuỳ bút hiện sinh. Từ chối món ăn ốc sên ở nhà mình, cậu bé Cosimo bỏ ra vườn, trèo lên cây và thề sẽ không bao giờ trở xuống mặt đất suốt đời mình. Từ đó, cậu sống trên cây, chuyền trên những cành cây vùng Bóng Râm như khỉ, để làm một con người tự do. Ở khoảng cách ấy, cậu thực hiện một cuộc sống đầy tương tác với mặt đất, mật thiết và hiệu quả hơn xưa như dẫn nước, cứu chữa nạn cháy rừng, chống cướp… và vẫn có thể đọc sách, nuôi chó, yêu đương, trao đổi thư từ với Voltaire ở Paris và gặp gỡ Napoleon vừa đến xứ Bóng Râm!
Khi đạt đến tuổi 65, Cosimo đu lấy một khinh khí cầu của người Anh bay qua và biến mất về phía biển. Gia đình dựng lên một nấm mồ tượng trưng, chỉ là một tấm bia tưởng niệm với lời bi minh: Cosimo Mưa Giông xứ Rondo/Sống trên cây/Luôn yêu thương quả đất/Bay về trời.
Triết lý của Cosimo là: “Ai muốn nhìn mặt đất một cách thích hợp thì phải giữ một khoảng cách cần thiết với nó”. Suốt đời giữ khoảng cách ấy, chàng vẫn có thể trở thành một Cosimo đa nhân cách.
Một Cosimo tình nhân, yêu và được phụ nữ yêu.
Một Cosimo người đi săn, sống nhờ săn mồi và hái quả như người nguyên thuỷ.
Một Cosimo trí thức, không chỉ đọc nhiều sách uyên bác, mà còn viết nhiều tiểu luận triết lý.
Một Cosimo người mơ mộng, chàng muốn xây một địa đàng trên những ngọn cây.
Italo Calvino tất nhiên không phải là Cosimo. Ông chỉ thử nhìn thế giới từ trên cây cùng với chàng. Ông chỉ thử nhìn thế giới cùng với Palomar, với Marco Polo, với Qfwfq… và như vậy, ông tránh được cái nhìn biên kiến về thế giới, cái thế giới mà ông yêu thương, muốn cùng nó chơi đùa.
Một cuộc chơi đùa thanh thoát và hiền minh.
Cái nhìn của Calvino, muốn ôm choàng thế giới. Theo đúng cách nói của ông, đó là “thế giới nhìn thế giới”.
Nguồn: Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 24 tháng 8 năm 2009

Xem thêm về Italo Calvino:
http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=142


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=603


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=138