Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Văn hóa Bắc Mỹ (2)

Cá tính sáng tạo trong văn chương nghệ thuật Mỹ

Đạo diễn điện ảnh huyền thoại
David Llewelyn Wark Griffith

Trên lĩnh vực văn hóa, năng lực sáng tạo Mỹ thể hiện rõ nhất ở nghệ thuật điện ảnh. Được ra đời ngay từ cuối thế kỉ XIX, điện ảnh Mỹ đã nhanh chóng trở thành một trong những nền điện ảnh hàng đầu thế giới cả về số lượng phim và chất lượng nghệ thuật.

Làm nên thành công của điện ảnh Mỹ, ngoài kỹ xảo điện ảnh, nội dung hấp dẫn, không thể không nói đến diễn xuất của những diễn viên trẻ tài năng, đặc biệt là diễn viên chính. Ngược dòng lịch sử điện ảnh Mỹ, có thể thấy trong mỗi giai đoạn phát triển đều có những sáng tạo độc đáo. Tên tuổi của Eadweard Muybridge gắn liền với những hình ảnh "chuyển động" đầu tiên chụp ngựa đang phi nước đại. Việc phát minh ra máy chiếu phim (kenetoscope) của Thomas Alva Edison đã góp phần đáng kể thúc đẩy điện ảnh ra đời. Đầu năm 1910, đạo diễn huyền thoại D.W.Griffith được công ty Biograph Company cử đến bờ biển miền Tây nước Mỹ cùng với đội ngũ diễn viên nổi tiếng của ông như Blanche Sweet, Lillian Gish, Mary Pickford và Lionel Barrymore với nhiệm vụ xây dựng cơ sở điện ảnh mới ở đây. 
Họ bắt đầu thực hiện các bộ phim ở một khu đất trống gần phố Georgia Street thuộc Los Angeles. Để mở rộng xưởng phim, công ty đã quyết định chuyển về một làng nhỏ cách Los Angeles vài dặm về phía bắc, họ gọi khu đất mới này bằng cái tên "Hollywood". Đến năm 1915, Hollywood bắt đầu khẳng định được vị trí đầu đàn của điện ảnh Mỹ với bộ phim nổi tiếng Birth of a Nation của Griffith. Với sức sáng tạo lớn của người Mỹ, trong 100 năm qua, kinh đô điện ảnh Hollywood đã có gần như tất cả các ngành quan trọng của điện ảnh như biên tập, kỹ xảo, hậu sản xuất và ánh sáng. Vào những năm 40 của thế kỷ trước, mỗi năm Hollywood sản xuất trung bình 400 bộ phim, bao gồm hầu hết các thể loại như: phim hành động, phim giả tưởng, phim hài, phim trinh thám, phim hoạt hình...  với công nghệ sản xuất tiên tiến nhất, cho ra đời phim nhựa, phim DVD, phim 3-D. Công nghệ phim 3-D không những sản xuất ra các phim mới mà còn có thể chuyển những phim cũ trước đây thành phim 3-D. Họ chỉ cần vài tháng để chuyển sang phim nổi các tác phẩm trứ danh như Nhà phù thủy xứ Oz, Casablanca, Chiến tranh giữa các vì sao King Kong - phiên bản mới nhất của Peter Jackson.




Bộ phim My Left Foot (1989) - 
chuyển thể từ tự truyện của nhà văn
Christy Brown
Nhờ sáng tạo không ngừng nên một điều hiển nhiên là điện ảnh Hollywood có sức chinh phục và hấp dẫn toàn thế giới, đồng thời thu hút nhiều tài năng điện ảnh thế giới đến làm việc không kể màu da, sắc tộc, từ đó tạo cho các bộ phim có nhiều phong cách nghệ thuật và diễn xuất đa dạng. Điện ảnh Mỹ đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận được, song không phải không có mặt trái. Một thời Hollywood đã trở thành một tụ điểm chính trị, những ông trùm của các xưởng phim đã sử dụng quyền thế của mình để xuất xưởng những bộ phim cổ xúy cho chủ nghĩa thực dân và khuấy động nên một "mối họa đỏ". Tuy nhiên, nhìn từ góc độ cá nhân luận Mỹ tích cực, Hollywood là mảnh đất màu mỡ cho các nhà làm phim sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật được cả thế giới biết đến và đánh giá cao. Nhiều bộ phim ca ngợi tình mẫu tử, đề cao nghị lực sống của những người bị xã hội ruồng bỏ, khẳng định quyền con người... đã được các nhà làm phim khai thác dưới nhiều góc độ, rất tinh tế nhưng cũng thật gần gũi với cuộc sống. Vượt lên trên tất cả là khát vọng tự khẳng định cá nhân con người.

Bộ phim Bàn chân trái của tôi (My Left Foot - 1989) được chuyển thể từ cuốn tự truyện cùng tên của nhà văn Christy Brown, một người mắc bệnh bại não bẩm sinh nhưng rất giàu ý chí và nghị lực. Cuốn tự truyện này được Christy Brown viết vào năm 22 tuổi, lấy bản thân ông làm hình mẫu để kể về một thanh niên đã chiến thắng số phận nhờ nghị lực phi thường.

Michael Other, một vận động viên bóng rổ da màu trong phim Cổ tích giữa đời thường (The Blind Side - 2009); Andrew Beckett, một bệnh nhân HIV trong phim Philadelphia (1993)... đều là những sáng tạo nghệ thuật có nguyên mẫu từ cuộc sống đương đại Mỹ, phản ánh ý chí vươn lên, chiến thắng số phận, chiến thắng hoàn cảnh.

Một trong số những thể loại phim ăn khách nhất và thể hiện tính sáng tạo trong nghệ thuật giải trí Mỹ là thể loại phim miền Tây (Western). Đó là một định nghĩa của người Mỹ nhằm để chỉ các tác phẩm điện ảnh về miền Tây nước Mỹ thế kỷ XIX. Có thể coi đây là "đặc sản" Mỹ. Thể loại phim về miền Tây có một số tiểu thể loại như: phim miền Tây kiểu cổ điển (Classical Western), phim sử thi miền Tây (Epic Western), phim miền Tây kiểu bắn giết (Shoot 'em up Western), phim miền Tây kiểu Spaghetti (Spaghetti Western) - loại phim được sản xuất ở Italia, phim miền Tây kiểu cải biên (Revisionist Western - mang màu sắc u ám, đề cao vai trò của người phụ nữ và bên vực người da đỏ bản địa, người Mexico), phim miền Tây đương đại (Contemporary Western), nổi tiếng với loạt phim đoạt giải Oscar 2005 - Brokeback Mountain.

Các bộ phim về miền Tây thường mô tả cuộc chinh phục những vùng đất còn hoang vu, hay là công cuộc khai hóa nền văn minh hoặc lấn chiếm vùng lãnh thổ vốn thuộc về những người dân da đỏ bản địa ở vùng biên giới của người Mỹ. Miền Tây trong những bộ phim này được biết đến như một xã hội coi trọng danh dự con người hơn là pháp luật. Câu chuyện về những chàng cao bồi (chăn bò) và những tay giết người thuê là chủ đề chính trong phim về miền Tây.

Ảnh hưởng văn hóa của Hollywood là rộng khắp. Tại 22 nước phát triển nhất, trên 85% số phim được chiếu nhiều nhất là của Mỹ. Ở những nước như Brazil, Anh, Ai Cập, Argentian thì phim Mỹ chiếm cả 100%). Ngoài ra, 44 trong số 55 bộ phim thành công nhất từng được trình chiếu tại Đức đều được quay ở Hollywood.

Vì vậy, chẳng lấy gì làm lạ khi hàng năm tại Liên hoan phim Cannes, người hâm mộ thường bình phẩm với nhau rằng bộ phim được ưa thích nhất có thể giành giải Cành cọ vàng thường là phim chống Mỹ... nhưng lại sản được sản xuất từ Mỹ. Phim Fahreinheit 9/11 của Michael Moore (2004) là một ví dụ điển hình nhất. Vì thế có người đã thốt lên: "Người Mỹ đã chiếm lĩnh tiềm thức chúng ta". Câu nói này vốn là lời của một nhân vật trong phim Những ông hoàng của đường phố (Kings of the Road) của đạo diễn Wim Wender. Lời nhận xét đó vừa hàm ý sự ngưỡng mộ vừa có ý phê phán.

Thái độ mâu thuẫn của Wender đối với "mẫu quốc" điện ảnh nói lên những cảm nhận chung của các "thuộc địa". Người Mỹ cũng có chung cảm nhận đó. Thậm chí có lúc người ta cho đó là nguy cơ "xâm lăng" hoặc "bành trướng" văn hóa Mỹ.

Bất chấp sự sa sút của nhiều ngành kinh tế Mỹ, Hollywood vẫn giữ được ưu thế thương hiệu trong lĩnh vực giải trí. Giữ được ưu thế đó một phần là do sức hấp dẫn thực sự tổng hợp chất lượng gắn với những giát trị trong sáng, đó là chủ nghĩa cá nhân và cao hơn thế là chủ nghĩa nhân văn, quyền tự do đi lại, sự vận động đi lên, mưu cầu hạnh phúc (tinh thần hay vật chất) và tinh thần mạo hiểm, ý chí vượt lên số phận và môi trường sống để khẳng định cá nhân con người.

VĂN HÓA BẮC MỸ TRONG TOÀN CẦU HÓA -Lương Văn Kế (chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Miguel Asturias

Nếu anh viết truyện chỉ để giải trí thì hãy đốt chúng đi! Hãy thành kính nghe thông điệp này, vì nếu anh không đốt thì truyện của anh cũng sẽ bị xóa bỏ trong kí ức của nhân dân, nơi mà các nhà thơ nhà văn đều mong có chỗ cho mình. Hãy thử tưởng tượng xem, xưa nay có bao nhiêu người đã viết để giải trí! Bây giờ còn ai nhớ đến họ nữa? Ngược lại, thật là dễ dàng nhắc lại tên của những người trong số chúng ta đã viết để làm chứng nhân. - M. Asturias


Nhà văn Guatemala Miguel Ángel Asturias
Giải Nobel văn chương năm 1967


Miguel Asturias sinh tại thủ đô Guatemala, trong một gia đình tri thức. Ông là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà ngoại giao nổi tiếng người Guatemala, tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ: Ngài tổng thống (The President, 1946). Ông được xem là người góp phần quan trọng trong việc đưa văn học Mĩ Latin vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Suốt cuộc đời, Asturias gần như phải sống lưu vong ở nước ngoài vì ông luôn bất hòa và cực lực phản đối các thế hệ độc tài ở Tổ quốc mình.

Asurias là con của luật sư Ernesto Asturias, một người mang tư tưởng nhân văn tiến bộ. Mẹ ông là một giáo viên. Do bất đồng với tổng thống đương nhiệm Estrada Cabrera, nên Ernesto từ chức công chứng viên và đưa gia đình về sống ở Salamá, nơi có trang viên của gia đình đằng nội. Salamá là vùng đất thơ mộng, đầy ắp những câu chuyện thần thoại, cổ tích. Miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn văn nhân của Asturias ngay thuở thiếu thời.

Lên chín tuổi, 
Asurias  cùng cha mẹ trở lại sinh sống tại ngoại ô thủ đô. Bố Asurias  hành nghề nhập khẩu đường và bột. Thuở bé, Asurias  được chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm của gia đình và xã hội.

Năm 1917, 
Asurias  vào đại học. Ông theo học ngành y một năm, sau đó chuyển sang nghiên cứu luật. Với tư cách là đại diện cho Hiệp Hội Sinh viên các trường đại học, ông đến Honduras và El Salvador. Năm 1921, Asurias  được cử làm một trong những phát ngôn viên của Guatemala đến Mexico dự Hội nghị sinh viên quốc tế.

Năm 1923, 
Asurias  nhận bằng cử nhân luật tại Đại học San Carlos. Ông sang châu Âu để tiếp tục sự nghiệp học tập, nghiên cứu. Mặc dù ước muốn của cha ông là hướng ông theo ngành kinh tế nhưng Asurias  lại theo học ngành nhân chủng học dưới sự dạy dỗ của Georges Raymond tại đại học Sorbonne ở Paris từ năm 1923 đến 1928. Thời gian nàyAsurias  bắt đầu dịch các tác phẩm của người Maya sang tiếng Pháp. Asurias  rất yêu thích và am hiểu văn hóa Maya. Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của nền văn học này sang tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh việc dịch thuật, ông còn sáng tác thơ và truyện. Tác phẩm của ông thường phản phất chất hư ảo, huyền hoặc của nền văn hóa Maya. Asurias  sống ở Paris suốt mười năm.

Năm 1930, danh tiếng đến với 
Asurias  khi ông cho xuất bản cuốn Truyền thuyết Guatemala (Legends of Guatemala). Cuốn sách được ông kể lại dựa trên các truyền thuyết của người Maya cổ. Đây là những truyện cổ mang tính hoang đường, được viết theo lối thơ trữ tình Tây Ban Nha. Ba năm sau, Asurias hoàn thành cuốn Ngài tổng thống. Cuốn sách dẫu không được in do chủ đề kẻ độc tài Mĩ Latin được ông thể hiện tài tình, sắc nét nhưng nó vẫn được bí mật lưu truyền trong giới trí thức suốt 13 năm cho đến khi ra đời (năm 1946). Cuốn sách tái hiện sự hối lộ, tham nhũng lan tràn khắp đất nước. Cái ác, cái xấ hoành hành. Cánh sĩ quan quân đội thì suốt ngày chui đầu vào các nhà chứa hoặc hoạch định các âm mưu nham hiểm... Asurias đã hư cấ tội ác của chế độ độc tài đến mức huyền thoại.

Trở về Guatemala vào năm 1933, Asturias làm phóng viên cho một hãng truyền thanh. Những năm 1940, ông bước vào sự nghiệp ngoại giao và sống ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ năm 1945 - 1947, ông giữ nhiều chức vụ ngoại giao ở Mexico. Từ năm 1947 - 1952, 
Asturias ở Buenos Aires. Từ 1952 - 1953 ông sống ở Paris. Một năm sau, ông làm đại sứ tại El Salvador. Năm 1950, Asturias li dị người vợ đầu Clemencia Amado và cưới Blanche de Mora y Aruaho. Công việc ngoại giao của Asturias bị gián đoạn khi phe cánh hữu của Carlos Armas lên nắm chính quyền vào năm 1954, ông phải lưu vong ra nước ngoài.

Năm 1949, tác phẩm Người ngô (Men of Maize) của 
Asturias được in. Cuốn sách cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa ông với truyền thống văn hóa Maya cổ đại. Maize, tiếng Tây Ban Nha maiz có nghĩa là ngô, chất liệu để Thượng đế khai sinh ra con người trong thần thoại Maya. Tác phẩm miêu tả cuộc nổi dậy của một bộ lạc da đỏ trong bầu không khí huyền ảo, ma thuật của người da đỏ.

Được xem là một trong những kiệt tác của 
Asturias, Người ngô được cấu trúc gồm sáu phần. Mỗi phần khai thác một khía cạnh tương phản trong tập quán của người da đỏ với xã hội đang hiện đại hóa và phát triển nhanh. Cuốn tiểu thuyết khám phá thế giới huyền ảo của các cộng đồng bản địa. Đề tài mà Asturias rất đam mê và nắm chắc. Nội dung sách tập trung vào cuộc nổi dậy của một bộ tộc da đỏ sinh sống nơi vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở và đang đối đầu với nguy cơ bị quân đội chính phủ xóa sổ. Cốt truyện xoay quanh cộng đồng người ngô đó nơi đất đai của họ có nguy cơ bị tàn phá. Phần hai của cuốn tiểu thuyết tái hiện một khung cảnh khác thông qua việc giới thiệu nhiều nhân vật mới. Thế hệ người da đỏ tiếp theo tiếp xúc với các bậc tiên tổ trong quá khứ và họ đã đi đến quyết định nỗ lực tranh đấu để duy trì truyền thống của tổ tiên họ.

Câu chuyện bộc lộ thái độ phê phán của 
Asturias trước việc chủ nghĩa đế quốc phương Tây có thói quen thống trị và cưỡng bức các nền văn hóa Mĩ Latin và nhiều nơi khác trên thế giới đi theo văn hóa của mình. Asturias sử dụng sự hiểu biết rộng rãi của mình về văn học để kể câu chuyện dưới hình thức thần kì. Với cách tái hiện cuộc sống độc đáo đó nên ngay khi ra đời, các nhà phê bình không tỏ ra mặn mà lắm về nó.

Những năm 1950, 
Asturias bắt tay vào sáng tác tác phẩm Bộ ba Chuối (The Banana Triology), bao gồm: Dông tố (The Cyclone, 1950), Giáo Hoàng xanh (The Green Pope, 1954) và Mắt người đã khuất (The eyes of the Interred, 1960) tố cáo tội ác của Công ti hoa quả Hoa Kỳ. Năm  1956, ông cho in tập truyện ngắn Cuối tuần ở Guatemala (Weekend in Guatemala) đề cập đến sự can thiệp của Hoa Kì trong việc lật đổ chính phủ Arbenz năm 1954. Sau biến cố lịch sử này, ông sống ở Chile rồi sang Brazil làm phóng viên cho tờ Quốc gia của Venezuela. Năm 1966, tổng thống Julio Mendez lên nắm quyền, Asturias được cử làm đại sứ ở Pháp.
Những năm cuối đời, Asturias sống ở Madrid. Ông chết khi đang đi thỉnh giảng vào ngày 9-6-1974. Thi hài ông được mai táng ở nghĩa trang Cha Lachaise. Với tất cả những đóng góp to lớn cho dân tộc và cho nhân loại, Asturias được trao tặng giải thưởng Lê-nin về hòa bình vào năm 1966 và giải Nobel văn chương năm 1967.

Sau khi nhà văn qua đời, chính phủ Guatemala thành lập giải thưởng văn học mang tên Miguel Angel Asturias. Tên ông cũng được lấy đặt cho hai nhà hát quốc gia của Guatemal. Nhân loại nhớ đến ông với tư cách là người có niềm tin vĩnh hằng vào sự bất tử của văn hóa bản địa ở Guatemala. Văn học Mĩ Latin ghi nhận vị trí mở đường của ông cho nền văn chương khu vực.

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & Gabriel García Márquez - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Milan Kundéra

Milan Kundéra và sứ mệnh của tiểu thuyết
Hiện tượng Milan Kundéra
Những bài phát biểu đầu tiên Kundéra về các vấn đề lý luận văn học đã gây tiếng vang trong xã hội Séc. Năm 1955, trong tiểu luận Quanh những cuộc bàn cãi về di sản, ông đã hăng hái ủng hộ một cách đầy thuyết phục Vitezslav Nezval, người từng tuyên bố sẽ không có thơ thế kỷ XX, nếu thiếu Guillaume Apollinaire.

Nhưng bảo vệ phái tiền phong không phải là đề tài duy nhất trong bài viết của Kundéra. Ông khẳng định rằng trong văn học thế giới có chỗ cho mọi khuynh hướng khác nhau. Kundéra không đi theo sự phân chia thơ ra thành thơ truyền thống và thơ tiền phong, ông có các tiêu chí phân loại khác. Thứ thơ gần gũi nhất với mình ông gọi là "Thơ ca của cuộc sống trần thế": Rimbaud - Apollinaire - các nhà vị lai Nga - Nezval thời trẻ. Nhưng ông cũng thừa nhận các đại diện của thứ thơ "triết học tư tưởng" mà ông xếp vào đó Mallarmé - Valéry - Rilke - Pasternak, thừa nhận thứ thơ chính trị bậc cao. Luận điểm chính trong quan niệm của ông là trên cơ sở những thành tựu đã cần phải tiến tới sự tổng hợp: "... nghệ thuật của chúng ta đang dần dần bước vào một thời đại lịch sử rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển mới".

Vào những năm đó, Kundéra bắt đầu giảng dạy văn học thế giới ở Viện Hàn lâm điện ảnh Praha, nơi trong số các thính giả của ông có nhà đạo diễn sau này nổi tiếng Milos Forman. Gắn với hoạt động giảng dạy này là cuốn chuyên luận của Kundéra: Nghệ thuật tiểu thuyết. Con đường của Vladislav Vanchura đi đến sử thi lớn (1960). Thông qua sự đối chiếu cuốn tiểu thuyết cỡ vừa của nhà văn lớn thuộc phái tiền phong Séc với kiểu tiểu thuyết Balzac, ông nêu lên quá trình tiến triển của thể loại tiểu thuyết - từ phác họa chân dung xã hội đến phản ánh con người riêng rẽ.

Nhưng tiểu thuyết mới là khu vực Kundéra dành được sự chú ý cần thiết. Những tác phẩm chính của ông gồm có Chuyện đùa (1967), Cuộc sống không phải ở nơi đây (1970), Nhẹ kiếp nhân sinh (1984), Sự bất tử (1990), Chậm rãi (1994) (mấy cuốn về sau được ông viết thẳng bằng tiếng Pháp, sau khi chuyển sang sống ở Pháp). Các bản dịch tiểu thuyết của Kundéra thuộc vào danh mục sách bán chạy và được trao nhiều giải thưởng uy tín không chỉ ở các nước Tây Âu, mà còn ở Mỹ - ở đấy đã có bốn tập chuyên khảo và một tập bài viết về sáng tác của ông, một bộ phim do không thành công và bị ông từ bỏ, nhưng hiển nhiên là đã góp phần thêm cho danh tiếng của Kundéra). Các sách của ông còn được dịch ra tiếng Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các thứ tiếng châu Á khác.

Về tiểu thuyết  Châu Âu
Tiểu thuyết đối với Kundéra - đó là tiểu thuyết châu Âu, ở đây thuật ngữ "châu Âu" chỉ thuộc về một kiểu văn minh nhất định. Lịch sử tiểu thuyết này ông dẫn từ Cervantes, đến Diderot người mà ông đặc biệt kính trọng, Balzac, Flaubert, Tolstoi, Joyce, còn trong thế kỉ XX ông tách riêng ra "truyền thống Trung Âu" được đại diện bởi những tên tuổi Kafka, Hasek, Broch, Musil, Gombrowiz. Hạt nhân quan niệm này là ở chỗ Kundéra xem tiểu thuyết không phải như một trong các thể loại văn học giữa các thể loại khác, mà như một phương pháp phức hợp nhằm nhận thức cuộc sống và đưa lại những kết quả nhiều khi còn đáng tin cậy hơn so với các nghiên cứu khoa học.

Khái quát kinh nghiệm tích cực của các nhà văn kể trên, hoặc của T.Mann, E.Hemingway và một số người khác, cũng như tiếp tục suy xét những bài học từ sáng tác của chính mình, Kundéra nêu lên những yêu cầu mà tiểu thuyết cần phải đáp ứng để có khả năng hoàn thành được sứ mệnh cao cả. Tiểu thuyết, theo Kundéra, thể hiện trong mình "tinh thần của phức tạp", "hiền minh của hoài nghi", nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người. Đối với ông, tiểu thuyết trước hết là "sự tổng hợp trí tuệ lớn", tự do thu nhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào: "Không cái gì có thể đưa ra suy luận mà lại bị loại ra khỏi nghệ thuật tiểu thuyết". Đó không phải là những đoạn tiểu luận ngoại đề, mà là tư tưởng mang tính động lực chung bao trùm tất cả, toát ra từ các tiểu thuyết giá trị.

Ông viết: "Các nhân vật trong các tiểu thuyết của tôi - đó là những khả năng riêng mà tôi không thực hiện được. Vì thế tôi yêu mén tất cả chúng như nhau và cũng kinh sợ chúng như nhau, mỗi người trong số các nhân vật đó đã bước qua giới hạn mà bản thân tôi chỉ dám đi vòng. Chính cái giới hạn này (giới hạn mà đằng sau đó cái "tôi" của tôi kết thúc) đã lôi cuốn tôi. Chỉ ở phía sau nó mới bắt đầu những bí ẩn mà tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết không phải là một thứ tôn giáo của tác giả, mà là sự nghiên cứu cuộc sống trong cái cạm bẫy do thế giới biến thành".

Điều làm Kundéra băn khoăn là độc giả hiện đại thích đọc các sách viết về những chuyện đồn đại của cuộc đời các nhà văn nổi tiếng, chứ không phải là các tác phẩm của họ. Theo ý ông, trong tiểu thuyết - "thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu" - tác giả, khi đưa ra những đòi hỏi, những quyết định có thể hay không thể của mình để thử thách các nhân vật đó, tỏ ra tự do và cởi mở hơn rất nhiều so với qua thư từ, nhật ký, hồi ức. "Trò chơi với các nhân vật hư cấu" không nhằm mục đích đạt đến sự giống như thật, nhưng cũng không mâu thuẫn với những sự tìm kiếm chân lý, ngược lại, nó kết hợp với những suy ngẫm tạo thành cơ sở của sự nghiên cứu theo kiểu tiểu thuyết đối với cuộc sống. Theo niềm tin của Kundéra, tiểu thuyết kiểu mới hầu như sẽ tự động mang theo vấn đề phức điệu. Ông nhấn đi nhấn lại bản chất tra vấn của  tiểu thuyết, khả năng hoài nghi tất cả của nó. Chính dựa vào đó, theo Kundéra, nhà tiểu thuyết mới có khả năng tiến sát đến việc khám phá ra điều bí ẩn duy nhất mà hắn phải quan tâm - "điều bí ẩn của hiện sinh mà chỉ hắn và nghệ thuật tiểu thuyết của hắn mới khám phá ra được".

"Sau Joyce, chúng ta đã biết rằng sự phiêu lưu lớn nhất trong cuộc sống đã chuyển biến vào bên trong con người". Các nhà phê bình coi câu nói của ông đó là "tín điều" của Kundéra, thán phục sự quan sát tinh tế và sâu sắc của ông.

Kundéra rất quan tâm đến việc dịch. Chẳng hạn ông đã có riêng một bài viết phân tích việc dịch một câu của Kafka ra các thứ tiếng khác nhau. Bài viết đó cũng không hẳn nói về việc dịch, mà là nói về đặc thù của nghệ thuật tiểu thuyết. Kundéra khuyên: phải đọc các tiểu thuyết thật chậm rãi, chăm chú. Tuy thừa biết rằng khó mà tìm được một người nào trên đời đọc sách lại không nhảy cóc từng trang, ông vẫn tin cần phải viết ra những cuốn tiểu thuyết đáng để đọc chậm.

Nhìn chung, Kundéra tin tưởng vào thiên chức xã hội, nhân văn cao cả của nghệ thuật tiểu thuyết. Khi đưa lại cho con người sự nhận thức phù hợp nhất về ý của sinh tồn, nó đối lập lại các phương tiện thông tin đại chúng - những cá không để cho con người đối diện với chính mình, tước mất của con người ký ức lịch sử, đè nén cá tính của con người: "Cuộc sống thường xuyên bị ngốn nuốt bởi các "sức manh thoái hóa" và công việc của nhà văn - đó là những nỗ lực Don Quichotte nhằm bảo vệ con người khỏi sự thoái hóa, là khát vọng tạo ra một thế giới tưởng tượng nhỏ bé có sự tươi mới của một câu hỏi bất ngờ".

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tôi đã được đọc Vô TriNhững mối tình nực cười của Milan 
Kundéra (bản dịch tiếng Việt) cách đây không lâu. Hai quyển sách đem lại cho tôi nhiều cảm xúc và suy tư. Trước đó người ta nhắc về ông ở mọi nơi: sách nghiên cứu văn học, báo chí, trò chuyện... vậy mà tôi không nhận thức được tầm vóc văn chương của nhà văn này. Giờ thì dĩ nhiên là không thể bỏ qua những tác phẩm cũng như những suy tư của một trong số những nhà văn vĩ đại nhất thế giới. Một điều đáng nói là trong khoảng thời gian đọc Vô tri, tôi cũng đã tiếp xúc tác phẩm của Paul Auster và Haruki Murakami. Có một chút trùng hợp ngẫu nhiên mang tính số phận mà tôi sẽ kể sau. Cả ba đều là những nhà văn tôi yêu thích nhất và lạ thay, cả ba chưa được nhận Nobel văn học dù luôn được đề cử. Có lẽ khuynh hướng của tôi là ưa thích những tác giả không-Nobel văn chương. :)

Italo Calvino (3)

Italo Calvino trên cây – Thế giới nhìn thế giới!


Những trào lộng và triết lý, những ma ảo pha hiện thực, bút pháp thử nghiệm mang tố chất kinh điển, những hoang đường ôm ấp khoa học… đã làm nên Italo Calvino, một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi.
Italo Calvino (1923 – 1985) sinh tại Cuba và mất tại Ý. Trải qua gần bốn thập kỷ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình… Calvino để lại quá nhiều kiệt tác. Từ tiểu thuyết tân hiện thực đầu tay là Đường đến tổ nhện đến bộ ba tác phẩm dụ ngôn về tổ tiên: Tử tước bị chẻ đôi, Nam tước trên cây, Hiệp sĩ không hiện hữu… Từ tiểu thuyết về vũ trụ Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) đến trò chơi tự sự kỳ ảo Những thành phố vô hình. Từ “siêu tiểu thuyết” Nếu đêm đông một lữ khách đến mô hình Palomar… Tất cả những tác phẩm ấy đều mở rộng tầm nhìn của ta về vũ trụ và đời sống, tâm linh và sự vật.

Vài điểm nhấn

Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) là tập truyện pha trộn khoa học (cosmos, vũ trụ) với trào lộng (comics). Sự hình thành vũ trụ, tốc độ ánh sáng, sự tiến hoá của con người, cuộc tuyệt diệt của loài khủng long… được kể qua nhân vật biến ảo xuyên thời gian và không gian là Qfwfq, biểu hiện những hình tướng khác nhau của sự sống như nguyên tử, loài nhuyễn thể, khủng long, con người…
Như truyện đầu tiên Khoảng cách của trăng, trăng gần trái đất đến nỗi mỗi tháng con người leo lên trăng để lấy sữa trăng. Và tình yêu đã thu hút lên trăng ít nhất là hai người…
Những thành phố vô hình, tiểu thuyết về những thành phố mộng ảo mà Marco Polo diễn tả (cho đại đế Hốt Tất Liệt) từng gặp trong những chuyến du hành. 55 thành phố, cái nào cũng huyền bí, hư ảo thuộc vào những phạm trù như hoài niệm, dục vọng, ký hiệu, con mắt, cái tên, cái chết, bầu trời… Tiểu thuyết không có hành động, không phát triển. Chỉ có những vấn nạn thiên thu về đời sống và cái chết, thực và ảo, bản chất của ngôn ngữ, địa đàng và ác mộng…
Nếu đêm đông một lữ khách là một thành công quốc tế trong sáng tác thử nghiệm của Italo Calvino. Tiểu thuyết viết theo ngôi thứ hai: mi. Mi mua một quyển truyện mang tênNếu đêm đông một lữ khách của Italo Calvino. Nhưng gặp phải một cuốn sách đóng nhầm. Mi gặp nàng Ludmilla xinh đẹp cũng có một bản đóng nhầm như thế. Cả hai đi tìm bản gốc thì lại gặp tác phẩm của một nhà văn Ba Lan. Rồi lại mười chương mở đầu của mười tiểu thuyết thuộc các thể loại khác nhau như trinh thám, erotica của Nhật, truyện ma, truyện huyền bí… cứ như là trò tinh nghịch của một dịch giả bất thường nào đó. Cuối cùng, Mi và Ludmilla yêu nhau, cùng nhau đọc tiểu luận của Calvino về sự đọc và sự viết.

Vài tác phẩm dịch sang tiếng Việt

Ngoài tiểu luận Sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ tới do Cao Việt Dũng dịch (đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài), chỉ có vài tiểu thuyết được chuyển ngữ sang tiếng Việt:Palomar, Vũ Ngọc Thăng dịch, NXB Hội nhà văn, 2004; Nếu đêm đông một lữ khách, Ngự Thuyết dịch (đăng trên Giai phẩm chủ đề); và một số truyện ngắn trong các tuyển tập, trên mạng.
Tác phẩm của Italo Calvino bắt đầu từ một điểm nhìn, từ những điểm nhìn khác nhau. Đó là cái nhìn của tự do chọn lựa. Nhưng dẫu sao đi nữa, theo Italo Calvino, vẫn là cái nhìn của “thế giới nhìn thế giới”.
Trong Palomar, ông viết: “Có cái cửa sổ hướng ra thế giới. Phía kia là thế giới, thế còn phía này? Vẫn là thế giới: bạn muốn nó là gì khác bây giờ… Cũng thế giới, nhân cơ duyên này, chia đôi thành một thế giới đang nhìn và một thế giới đang được nhìn… Chẳng phải chính anh cũng là một mảng của thế giới, đang nhìn một mảng khác của thế giới? Hoặc giả, cho rằng có một thế giới bên này và một thế giới bên kia cửa sổ, thì cái tôi có lẽ chính là cái khung cửa sổ qua đó thế giới nhìn thế giới” (bản dịch của Vũ Ngọc Thăng).
Đó là một cái nhìn gần như vô ngã.
Cái nghịch lý mà nhân vật của Calvino thường cuốn theo là làm sao có thể tự do đối với thế giới nhưng vẫn thuộc về thế giới.
Nam tước trên cây
Trong Nam tước trên cây, tác phẩm vừa được giới thiệu đầy đủ ở Việt Nam, ta được làm quen với một nhân vật như thế, chàng nam tước trẻ tuổi Cosimo.
Kiệt tác tiểu thuyết này, Calvino viết vào năm 1957, toả ra một làn không khí vừa kỳ ảo thần tiên như những phiêu lưu của cô bé Alice, vừa trầm tư triết lý như những tuỳ bút hiện sinh. Từ chối món ăn ốc sên ở nhà mình, cậu bé Cosimo bỏ ra vườn, trèo lên cây và thề sẽ không bao giờ trở xuống mặt đất suốt đời mình. Từ đó, cậu sống trên cây, chuyền trên những cành cây vùng Bóng Râm như khỉ, để làm một con người tự do. Ở khoảng cách ấy, cậu thực hiện một cuộc sống đầy tương tác với mặt đất, mật thiết và hiệu quả hơn xưa như dẫn nước, cứu chữa nạn cháy rừng, chống cướp… và vẫn có thể đọc sách, nuôi chó, yêu đương, trao đổi thư từ với Voltaire ở Paris và gặp gỡ Napoleon vừa đến xứ Bóng Râm!
Khi đạt đến tuổi 65, Cosimo đu lấy một khinh khí cầu của người Anh bay qua và biến mất về phía biển. Gia đình dựng lên một nấm mồ tượng trưng, chỉ là một tấm bia tưởng niệm với lời bi minh: Cosimo Mưa Giông xứ Rondo/Sống trên cây/Luôn yêu thương quả đất/Bay về trời.
Triết lý của Cosimo là: “Ai muốn nhìn mặt đất một cách thích hợp thì phải giữ một khoảng cách cần thiết với nó”. Suốt đời giữ khoảng cách ấy, chàng vẫn có thể trở thành một Cosimo đa nhân cách.
Một Cosimo tình nhân, yêu và được phụ nữ yêu.
Một Cosimo người đi săn, sống nhờ săn mồi và hái quả như người nguyên thuỷ.
Một Cosimo trí thức, không chỉ đọc nhiều sách uyên bác, mà còn viết nhiều tiểu luận triết lý.
Một Cosimo người mơ mộng, chàng muốn xây một địa đàng trên những ngọn cây.
Italo Calvino tất nhiên không phải là Cosimo. Ông chỉ thử nhìn thế giới từ trên cây cùng với chàng. Ông chỉ thử nhìn thế giới cùng với Palomar, với Marco Polo, với Qfwfq… và như vậy, ông tránh được cái nhìn biên kiến về thế giới, cái thế giới mà ông yêu thương, muốn cùng nó chơi đùa.
Một cuộc chơi đùa thanh thoát và hiền minh.
Cái nhìn của Calvino, muốn ôm choàng thế giới. Theo đúng cách nói của ông, đó là “thế giới nhìn thế giới”.
Nguồn: Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 24 tháng 8 năm 2009

Xem thêm về Italo Calvino:
http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=142


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=603


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=138