Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Miguel Asturias

Nếu anh viết truyện chỉ để giải trí thì hãy đốt chúng đi! Hãy thành kính nghe thông điệp này, vì nếu anh không đốt thì truyện của anh cũng sẽ bị xóa bỏ trong kí ức của nhân dân, nơi mà các nhà thơ nhà văn đều mong có chỗ cho mình. Hãy thử tưởng tượng xem, xưa nay có bao nhiêu người đã viết để giải trí! Bây giờ còn ai nhớ đến họ nữa? Ngược lại, thật là dễ dàng nhắc lại tên của những người trong số chúng ta đã viết để làm chứng nhân. - M. Asturias


Nhà văn Guatemala Miguel Ángel Asturias
Giải Nobel văn chương năm 1967


Miguel Asturias sinh tại thủ đô Guatemala, trong một gia đình tri thức. Ông là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà ngoại giao nổi tiếng người Guatemala, tác giả của cuốn tiểu thuyết bất hủ: Ngài tổng thống (The President, 1946). Ông được xem là người góp phần quan trọng trong việc đưa văn học Mĩ Latin vào dòng chảy chung của văn học thế giới. Suốt cuộc đời, Asturias gần như phải sống lưu vong ở nước ngoài vì ông luôn bất hòa và cực lực phản đối các thế hệ độc tài ở Tổ quốc mình.

Asurias là con của luật sư Ernesto Asturias, một người mang tư tưởng nhân văn tiến bộ. Mẹ ông là một giáo viên. Do bất đồng với tổng thống đương nhiệm Estrada Cabrera, nên Ernesto từ chức công chứng viên và đưa gia đình về sống ở Salamá, nơi có trang viên của gia đình đằng nội. Salamá là vùng đất thơ mộng, đầy ắp những câu chuyện thần thoại, cổ tích. Miền đất đã nuôi dưỡng tâm hồn văn nhân của Asturias ngay thuở thiếu thời.

Lên chín tuổi, 
Asurias  cùng cha mẹ trở lại sinh sống tại ngoại ô thủ đô. Bố Asurias  hành nghề nhập khẩu đường và bột. Thuở bé, Asurias  được chứng kiến nhiều cảnh thăng trầm của gia đình và xã hội.

Năm 1917, 
Asurias  vào đại học. Ông theo học ngành y một năm, sau đó chuyển sang nghiên cứu luật. Với tư cách là đại diện cho Hiệp Hội Sinh viên các trường đại học, ông đến Honduras và El Salvador. Năm 1921, Asurias  được cử làm một trong những phát ngôn viên của Guatemala đến Mexico dự Hội nghị sinh viên quốc tế.

Năm 1923, 
Asurias  nhận bằng cử nhân luật tại Đại học San Carlos. Ông sang châu Âu để tiếp tục sự nghiệp học tập, nghiên cứu. Mặc dù ước muốn của cha ông là hướng ông theo ngành kinh tế nhưng Asurias  lại theo học ngành nhân chủng học dưới sự dạy dỗ của Georges Raymond tại đại học Sorbonne ở Paris từ năm 1923 đến 1928. Thời gian nàyAsurias  bắt đầu dịch các tác phẩm của người Maya sang tiếng Pháp. Asurias  rất yêu thích và am hiểu văn hóa Maya. Ông cũng dịch nhiều tác phẩm của nền văn học này sang tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh việc dịch thuật, ông còn sáng tác thơ và truyện. Tác phẩm của ông thường phản phất chất hư ảo, huyền hoặc của nền văn hóa Maya. Asurias  sống ở Paris suốt mười năm.

Năm 1930, danh tiếng đến với 
Asurias  khi ông cho xuất bản cuốn Truyền thuyết Guatemala (Legends of Guatemala). Cuốn sách được ông kể lại dựa trên các truyền thuyết của người Maya cổ. Đây là những truyện cổ mang tính hoang đường, được viết theo lối thơ trữ tình Tây Ban Nha. Ba năm sau, Asurias hoàn thành cuốn Ngài tổng thống. Cuốn sách dẫu không được in do chủ đề kẻ độc tài Mĩ Latin được ông thể hiện tài tình, sắc nét nhưng nó vẫn được bí mật lưu truyền trong giới trí thức suốt 13 năm cho đến khi ra đời (năm 1946). Cuốn sách tái hiện sự hối lộ, tham nhũng lan tràn khắp đất nước. Cái ác, cái xấ hoành hành. Cánh sĩ quan quân đội thì suốt ngày chui đầu vào các nhà chứa hoặc hoạch định các âm mưu nham hiểm... Asurias đã hư cấ tội ác của chế độ độc tài đến mức huyền thoại.

Trở về Guatemala vào năm 1933, Asturias làm phóng viên cho một hãng truyền thanh. Những năm 1940, ông bước vào sự nghiệp ngoại giao và sống ở nhiều quốc gia trên thế giới. Từ năm 1945 - 1947, ông giữ nhiều chức vụ ngoại giao ở Mexico. Từ năm 1947 - 1952, 
Asturias ở Buenos Aires. Từ 1952 - 1953 ông sống ở Paris. Một năm sau, ông làm đại sứ tại El Salvador. Năm 1950, Asturias li dị người vợ đầu Clemencia Amado và cưới Blanche de Mora y Aruaho. Công việc ngoại giao của Asturias bị gián đoạn khi phe cánh hữu của Carlos Armas lên nắm chính quyền vào năm 1954, ông phải lưu vong ra nước ngoài.

Năm 1949, tác phẩm Người ngô (Men of Maize) của 
Asturias được in. Cuốn sách cho thấy sự gắn bó mật thiết giữa ông với truyền thống văn hóa Maya cổ đại. Maize, tiếng Tây Ban Nha maiz có nghĩa là ngô, chất liệu để Thượng đế khai sinh ra con người trong thần thoại Maya. Tác phẩm miêu tả cuộc nổi dậy của một bộ lạc da đỏ trong bầu không khí huyền ảo, ma thuật của người da đỏ.

Được xem là một trong những kiệt tác của 
Asturias, Người ngô được cấu trúc gồm sáu phần. Mỗi phần khai thác một khía cạnh tương phản trong tập quán của người da đỏ với xã hội đang hiện đại hóa và phát triển nhanh. Cuốn tiểu thuyết khám phá thế giới huyền ảo của các cộng đồng bản địa. Đề tài mà Asturias rất đam mê và nắm chắc. Nội dung sách tập trung vào cuộc nổi dậy của một bộ tộc da đỏ sinh sống nơi vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở và đang đối đầu với nguy cơ bị quân đội chính phủ xóa sổ. Cốt truyện xoay quanh cộng đồng người ngô đó nơi đất đai của họ có nguy cơ bị tàn phá. Phần hai của cuốn tiểu thuyết tái hiện một khung cảnh khác thông qua việc giới thiệu nhiều nhân vật mới. Thế hệ người da đỏ tiếp theo tiếp xúc với các bậc tiên tổ trong quá khứ và họ đã đi đến quyết định nỗ lực tranh đấu để duy trì truyền thống của tổ tiên họ.

Câu chuyện bộc lộ thái độ phê phán của 
Asturias trước việc chủ nghĩa đế quốc phương Tây có thói quen thống trị và cưỡng bức các nền văn hóa Mĩ Latin và nhiều nơi khác trên thế giới đi theo văn hóa của mình. Asturias sử dụng sự hiểu biết rộng rãi của mình về văn học để kể câu chuyện dưới hình thức thần kì. Với cách tái hiện cuộc sống độc đáo đó nên ngay khi ra đời, các nhà phê bình không tỏ ra mặn mà lắm về nó.

Những năm 1950, 
Asturias bắt tay vào sáng tác tác phẩm Bộ ba Chuối (The Banana Triology), bao gồm: Dông tố (The Cyclone, 1950), Giáo Hoàng xanh (The Green Pope, 1954) và Mắt người đã khuất (The eyes of the Interred, 1960) tố cáo tội ác của Công ti hoa quả Hoa Kỳ. Năm  1956, ông cho in tập truyện ngắn Cuối tuần ở Guatemala (Weekend in Guatemala) đề cập đến sự can thiệp của Hoa Kì trong việc lật đổ chính phủ Arbenz năm 1954. Sau biến cố lịch sử này, ông sống ở Chile rồi sang Brazil làm phóng viên cho tờ Quốc gia của Venezuela. Năm 1966, tổng thống Julio Mendez lên nắm quyền, Asturias được cử làm đại sứ ở Pháp.
Những năm cuối đời, Asturias sống ở Madrid. Ông chết khi đang đi thỉnh giảng vào ngày 9-6-1974. Thi hài ông được mai táng ở nghĩa trang Cha Lachaise. Với tất cả những đóng góp to lớn cho dân tộc và cho nhân loại, Asturias được trao tặng giải thưởng Lê-nin về hòa bình vào năm 1966 và giải Nobel văn chương năm 1967.

Sau khi nhà văn qua đời, chính phủ Guatemala thành lập giải thưởng văn học mang tên Miguel Angel Asturias. Tên ông cũng được lấy đặt cho hai nhà hát quốc gia của Guatemal. Nhân loại nhớ đến ông với tư cách là người có niềm tin vĩnh hằng vào sự bất tử của văn hóa bản địa ở Guatemala. Văn học Mĩ Latin ghi nhận vị trí mở đường của ông cho nền văn chương khu vực.

CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & Gabriel García Márquez - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Milan Kundéra

Milan Kundéra và sứ mệnh của tiểu thuyết
Hiện tượng Milan Kundéra
Những bài phát biểu đầu tiên Kundéra về các vấn đề lý luận văn học đã gây tiếng vang trong xã hội Séc. Năm 1955, trong tiểu luận Quanh những cuộc bàn cãi về di sản, ông đã hăng hái ủng hộ một cách đầy thuyết phục Vitezslav Nezval, người từng tuyên bố sẽ không có thơ thế kỷ XX, nếu thiếu Guillaume Apollinaire.

Nhưng bảo vệ phái tiền phong không phải là đề tài duy nhất trong bài viết của Kundéra. Ông khẳng định rằng trong văn học thế giới có chỗ cho mọi khuynh hướng khác nhau. Kundéra không đi theo sự phân chia thơ ra thành thơ truyền thống và thơ tiền phong, ông có các tiêu chí phân loại khác. Thứ thơ gần gũi nhất với mình ông gọi là "Thơ ca của cuộc sống trần thế": Rimbaud - Apollinaire - các nhà vị lai Nga - Nezval thời trẻ. Nhưng ông cũng thừa nhận các đại diện của thứ thơ "triết học tư tưởng" mà ông xếp vào đó Mallarmé - Valéry - Rilke - Pasternak, thừa nhận thứ thơ chính trị bậc cao. Luận điểm chính trong quan niệm của ông là trên cơ sở những thành tựu đã cần phải tiến tới sự tổng hợp: "... nghệ thuật của chúng ta đang dần dần bước vào một thời đại lịch sử rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực cổ điển mới".

Vào những năm đó, Kundéra bắt đầu giảng dạy văn học thế giới ở Viện Hàn lâm điện ảnh Praha, nơi trong số các thính giả của ông có nhà đạo diễn sau này nổi tiếng Milos Forman. Gắn với hoạt động giảng dạy này là cuốn chuyên luận của Kundéra: Nghệ thuật tiểu thuyết. Con đường của Vladislav Vanchura đi đến sử thi lớn (1960). Thông qua sự đối chiếu cuốn tiểu thuyết cỡ vừa của nhà văn lớn thuộc phái tiền phong Séc với kiểu tiểu thuyết Balzac, ông nêu lên quá trình tiến triển của thể loại tiểu thuyết - từ phác họa chân dung xã hội đến phản ánh con người riêng rẽ.

Nhưng tiểu thuyết mới là khu vực Kundéra dành được sự chú ý cần thiết. Những tác phẩm chính của ông gồm có Chuyện đùa (1967), Cuộc sống không phải ở nơi đây (1970), Nhẹ kiếp nhân sinh (1984), Sự bất tử (1990), Chậm rãi (1994) (mấy cuốn về sau được ông viết thẳng bằng tiếng Pháp, sau khi chuyển sang sống ở Pháp). Các bản dịch tiểu thuyết của Kundéra thuộc vào danh mục sách bán chạy và được trao nhiều giải thưởng uy tín không chỉ ở các nước Tây Âu, mà còn ở Mỹ - ở đấy đã có bốn tập chuyên khảo và một tập bài viết về sáng tác của ông, một bộ phim do không thành công và bị ông từ bỏ, nhưng hiển nhiên là đã góp phần thêm cho danh tiếng của Kundéra). Các sách của ông còn được dịch ra tiếng Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các thứ tiếng châu Á khác.

Về tiểu thuyết  Châu Âu
Tiểu thuyết đối với Kundéra - đó là tiểu thuyết châu Âu, ở đây thuật ngữ "châu Âu" chỉ thuộc về một kiểu văn minh nhất định. Lịch sử tiểu thuyết này ông dẫn từ Cervantes, đến Diderot người mà ông đặc biệt kính trọng, Balzac, Flaubert, Tolstoi, Joyce, còn trong thế kỉ XX ông tách riêng ra "truyền thống Trung Âu" được đại diện bởi những tên tuổi Kafka, Hasek, Broch, Musil, Gombrowiz. Hạt nhân quan niệm này là ở chỗ Kundéra xem tiểu thuyết không phải như một trong các thể loại văn học giữa các thể loại khác, mà như một phương pháp phức hợp nhằm nhận thức cuộc sống và đưa lại những kết quả nhiều khi còn đáng tin cậy hơn so với các nghiên cứu khoa học.

Khái quát kinh nghiệm tích cực của các nhà văn kể trên, hoặc của T.Mann, E.Hemingway và một số người khác, cũng như tiếp tục suy xét những bài học từ sáng tác của chính mình, Kundéra nêu lên những yêu cầu mà tiểu thuyết cần phải đáp ứng để có khả năng hoàn thành được sứ mệnh cao cả. Tiểu thuyết, theo Kundéra, thể hiện trong mình "tinh thần của phức tạp", "hiền minh của hoài nghi", nó không đi tìm các câu trả lời mà đặt ra các câu hỏi, nó nghiên cứu chính ngay bản chất sự tồn tại của con người. Đối với ông, tiểu thuyết trước hết là "sự tổng hợp trí tuệ lớn", tự do thu nhận vào mình những suy tư về bất kỳ đề tài nào: "Không cái gì có thể đưa ra suy luận mà lại bị loại ra khỏi nghệ thuật tiểu thuyết". Đó không phải là những đoạn tiểu luận ngoại đề, mà là tư tưởng mang tính động lực chung bao trùm tất cả, toát ra từ các tiểu thuyết giá trị.

Ông viết: "Các nhân vật trong các tiểu thuyết của tôi - đó là những khả năng riêng mà tôi không thực hiện được. Vì thế tôi yêu mén tất cả chúng như nhau và cũng kinh sợ chúng như nhau, mỗi người trong số các nhân vật đó đã bước qua giới hạn mà bản thân tôi chỉ dám đi vòng. Chính cái giới hạn này (giới hạn mà đằng sau đó cái "tôi" của tôi kết thúc) đã lôi cuốn tôi. Chỉ ở phía sau nó mới bắt đầu những bí ẩn mà tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết cần phải dò hỏi. Tiểu thuyết không phải là một thứ tôn giáo của tác giả, mà là sự nghiên cứu cuộc sống trong cái cạm bẫy do thế giới biến thành".

Điều làm Kundéra băn khoăn là độc giả hiện đại thích đọc các sách viết về những chuyện đồn đại của cuộc đời các nhà văn nổi tiếng, chứ không phải là các tác phẩm của họ. Theo ý ông, trong tiểu thuyết - "thứ văn xuôi tổng hợp lớn dựa trên trò chơi với các nhân vật hư cấu" - tác giả, khi đưa ra những đòi hỏi, những quyết định có thể hay không thể của mình để thử thách các nhân vật đó, tỏ ra tự do và cởi mở hơn rất nhiều so với qua thư từ, nhật ký, hồi ức. "Trò chơi với các nhân vật hư cấu" không nhằm mục đích đạt đến sự giống như thật, nhưng cũng không mâu thuẫn với những sự tìm kiếm chân lý, ngược lại, nó kết hợp với những suy ngẫm tạo thành cơ sở của sự nghiên cứu theo kiểu tiểu thuyết đối với cuộc sống. Theo niềm tin của Kundéra, tiểu thuyết kiểu mới hầu như sẽ tự động mang theo vấn đề phức điệu. Ông nhấn đi nhấn lại bản chất tra vấn của  tiểu thuyết, khả năng hoài nghi tất cả của nó. Chính dựa vào đó, theo Kundéra, nhà tiểu thuyết mới có khả năng tiến sát đến việc khám phá ra điều bí ẩn duy nhất mà hắn phải quan tâm - "điều bí ẩn của hiện sinh mà chỉ hắn và nghệ thuật tiểu thuyết của hắn mới khám phá ra được".

"Sau Joyce, chúng ta đã biết rằng sự phiêu lưu lớn nhất trong cuộc sống đã chuyển biến vào bên trong con người". Các nhà phê bình coi câu nói của ông đó là "tín điều" của Kundéra, thán phục sự quan sát tinh tế và sâu sắc của ông.

Kundéra rất quan tâm đến việc dịch. Chẳng hạn ông đã có riêng một bài viết phân tích việc dịch một câu của Kafka ra các thứ tiếng khác nhau. Bài viết đó cũng không hẳn nói về việc dịch, mà là nói về đặc thù của nghệ thuật tiểu thuyết. Kundéra khuyên: phải đọc các tiểu thuyết thật chậm rãi, chăm chú. Tuy thừa biết rằng khó mà tìm được một người nào trên đời đọc sách lại không nhảy cóc từng trang, ông vẫn tin cần phải viết ra những cuốn tiểu thuyết đáng để đọc chậm.

Nhìn chung, Kundéra tin tưởng vào thiên chức xã hội, nhân văn cao cả của nghệ thuật tiểu thuyết. Khi đưa lại cho con người sự nhận thức phù hợp nhất về ý của sinh tồn, nó đối lập lại các phương tiện thông tin đại chúng - những cá không để cho con người đối diện với chính mình, tước mất của con người ký ức lịch sử, đè nén cá tính của con người: "Cuộc sống thường xuyên bị ngốn nuốt bởi các "sức manh thoái hóa" và công việc của nhà văn - đó là những nỗ lực Don Quichotte nhằm bảo vệ con người khỏi sự thoái hóa, là khát vọng tạo ra một thế giới tưởng tượng nhỏ bé có sự tươi mới của một câu hỏi bất ngờ".

CÓ NHỮNG NHÀ VĂN NHƯ THẾ - Hà Vinh - Vương Trí Nhàn - Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tôi đã được đọc Vô TriNhững mối tình nực cười của Milan 
Kundéra (bản dịch tiếng Việt) cách đây không lâu. Hai quyển sách đem lại cho tôi nhiều cảm xúc và suy tư. Trước đó người ta nhắc về ông ở mọi nơi: sách nghiên cứu văn học, báo chí, trò chuyện... vậy mà tôi không nhận thức được tầm vóc văn chương của nhà văn này. Giờ thì dĩ nhiên là không thể bỏ qua những tác phẩm cũng như những suy tư của một trong số những nhà văn vĩ đại nhất thế giới. Một điều đáng nói là trong khoảng thời gian đọc Vô tri, tôi cũng đã tiếp xúc tác phẩm của Paul Auster và Haruki Murakami. Có một chút trùng hợp ngẫu nhiên mang tính số phận mà tôi sẽ kể sau. Cả ba đều là những nhà văn tôi yêu thích nhất và lạ thay, cả ba chưa được nhận Nobel văn học dù luôn được đề cử. Có lẽ khuynh hướng của tôi là ưa thích những tác giả không-Nobel văn chương. :)

Italo Calvino (3)

Italo Calvino trên cây – Thế giới nhìn thế giới!


Những trào lộng và triết lý, những ma ảo pha hiện thực, bút pháp thử nghiệm mang tố chất kinh điển, những hoang đường ôm ấp khoa học… đã làm nên Italo Calvino, một trong những nhà văn quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi.
Italo Calvino (1923 – 1985) sinh tại Cuba và mất tại Ý. Trải qua gần bốn thập kỷ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận, phê bình… Calvino để lại quá nhiều kiệt tác. Từ tiểu thuyết tân hiện thực đầu tay là Đường đến tổ nhện đến bộ ba tác phẩm dụ ngôn về tổ tiên: Tử tước bị chẻ đôi, Nam tước trên cây, Hiệp sĩ không hiện hữu… Từ tiểu thuyết về vũ trụ Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) đến trò chơi tự sự kỳ ảo Những thành phố vô hình. Từ “siêu tiểu thuyết” Nếu đêm đông một lữ khách đến mô hình Palomar… Tất cả những tác phẩm ấy đều mở rộng tầm nhìn của ta về vũ trụ và đời sống, tâm linh và sự vật.

Vài điểm nhấn

Cosmicomics (Tiếu ngạo càn khôn) là tập truyện pha trộn khoa học (cosmos, vũ trụ) với trào lộng (comics). Sự hình thành vũ trụ, tốc độ ánh sáng, sự tiến hoá của con người, cuộc tuyệt diệt của loài khủng long… được kể qua nhân vật biến ảo xuyên thời gian và không gian là Qfwfq, biểu hiện những hình tướng khác nhau của sự sống như nguyên tử, loài nhuyễn thể, khủng long, con người…
Như truyện đầu tiên Khoảng cách của trăng, trăng gần trái đất đến nỗi mỗi tháng con người leo lên trăng để lấy sữa trăng. Và tình yêu đã thu hút lên trăng ít nhất là hai người…
Những thành phố vô hình, tiểu thuyết về những thành phố mộng ảo mà Marco Polo diễn tả (cho đại đế Hốt Tất Liệt) từng gặp trong những chuyến du hành. 55 thành phố, cái nào cũng huyền bí, hư ảo thuộc vào những phạm trù như hoài niệm, dục vọng, ký hiệu, con mắt, cái tên, cái chết, bầu trời… Tiểu thuyết không có hành động, không phát triển. Chỉ có những vấn nạn thiên thu về đời sống và cái chết, thực và ảo, bản chất của ngôn ngữ, địa đàng và ác mộng…
Nếu đêm đông một lữ khách là một thành công quốc tế trong sáng tác thử nghiệm của Italo Calvino. Tiểu thuyết viết theo ngôi thứ hai: mi. Mi mua một quyển truyện mang tênNếu đêm đông một lữ khách của Italo Calvino. Nhưng gặp phải một cuốn sách đóng nhầm. Mi gặp nàng Ludmilla xinh đẹp cũng có một bản đóng nhầm như thế. Cả hai đi tìm bản gốc thì lại gặp tác phẩm của một nhà văn Ba Lan. Rồi lại mười chương mở đầu của mười tiểu thuyết thuộc các thể loại khác nhau như trinh thám, erotica của Nhật, truyện ma, truyện huyền bí… cứ như là trò tinh nghịch của một dịch giả bất thường nào đó. Cuối cùng, Mi và Ludmilla yêu nhau, cùng nhau đọc tiểu luận của Calvino về sự đọc và sự viết.

Vài tác phẩm dịch sang tiếng Việt

Ngoài tiểu luận Sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ tới do Cao Việt Dũng dịch (đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài), chỉ có vài tiểu thuyết được chuyển ngữ sang tiếng Việt:Palomar, Vũ Ngọc Thăng dịch, NXB Hội nhà văn, 2004; Nếu đêm đông một lữ khách, Ngự Thuyết dịch (đăng trên Giai phẩm chủ đề); và một số truyện ngắn trong các tuyển tập, trên mạng.
Tác phẩm của Italo Calvino bắt đầu từ một điểm nhìn, từ những điểm nhìn khác nhau. Đó là cái nhìn của tự do chọn lựa. Nhưng dẫu sao đi nữa, theo Italo Calvino, vẫn là cái nhìn của “thế giới nhìn thế giới”.
Trong Palomar, ông viết: “Có cái cửa sổ hướng ra thế giới. Phía kia là thế giới, thế còn phía này? Vẫn là thế giới: bạn muốn nó là gì khác bây giờ… Cũng thế giới, nhân cơ duyên này, chia đôi thành một thế giới đang nhìn và một thế giới đang được nhìn… Chẳng phải chính anh cũng là một mảng của thế giới, đang nhìn một mảng khác của thế giới? Hoặc giả, cho rằng có một thế giới bên này và một thế giới bên kia cửa sổ, thì cái tôi có lẽ chính là cái khung cửa sổ qua đó thế giới nhìn thế giới” (bản dịch của Vũ Ngọc Thăng).
Đó là một cái nhìn gần như vô ngã.
Cái nghịch lý mà nhân vật của Calvino thường cuốn theo là làm sao có thể tự do đối với thế giới nhưng vẫn thuộc về thế giới.
Nam tước trên cây
Trong Nam tước trên cây, tác phẩm vừa được giới thiệu đầy đủ ở Việt Nam, ta được làm quen với một nhân vật như thế, chàng nam tước trẻ tuổi Cosimo.
Kiệt tác tiểu thuyết này, Calvino viết vào năm 1957, toả ra một làn không khí vừa kỳ ảo thần tiên như những phiêu lưu của cô bé Alice, vừa trầm tư triết lý như những tuỳ bút hiện sinh. Từ chối món ăn ốc sên ở nhà mình, cậu bé Cosimo bỏ ra vườn, trèo lên cây và thề sẽ không bao giờ trở xuống mặt đất suốt đời mình. Từ đó, cậu sống trên cây, chuyền trên những cành cây vùng Bóng Râm như khỉ, để làm một con người tự do. Ở khoảng cách ấy, cậu thực hiện một cuộc sống đầy tương tác với mặt đất, mật thiết và hiệu quả hơn xưa như dẫn nước, cứu chữa nạn cháy rừng, chống cướp… và vẫn có thể đọc sách, nuôi chó, yêu đương, trao đổi thư từ với Voltaire ở Paris và gặp gỡ Napoleon vừa đến xứ Bóng Râm!
Khi đạt đến tuổi 65, Cosimo đu lấy một khinh khí cầu của người Anh bay qua và biến mất về phía biển. Gia đình dựng lên một nấm mồ tượng trưng, chỉ là một tấm bia tưởng niệm với lời bi minh: Cosimo Mưa Giông xứ Rondo/Sống trên cây/Luôn yêu thương quả đất/Bay về trời.
Triết lý của Cosimo là: “Ai muốn nhìn mặt đất một cách thích hợp thì phải giữ một khoảng cách cần thiết với nó”. Suốt đời giữ khoảng cách ấy, chàng vẫn có thể trở thành một Cosimo đa nhân cách.
Một Cosimo tình nhân, yêu và được phụ nữ yêu.
Một Cosimo người đi săn, sống nhờ săn mồi và hái quả như người nguyên thuỷ.
Một Cosimo trí thức, không chỉ đọc nhiều sách uyên bác, mà còn viết nhiều tiểu luận triết lý.
Một Cosimo người mơ mộng, chàng muốn xây một địa đàng trên những ngọn cây.
Italo Calvino tất nhiên không phải là Cosimo. Ông chỉ thử nhìn thế giới từ trên cây cùng với chàng. Ông chỉ thử nhìn thế giới cùng với Palomar, với Marco Polo, với Qfwfq… và như vậy, ông tránh được cái nhìn biên kiến về thế giới, cái thế giới mà ông yêu thương, muốn cùng nó chơi đùa.
Một cuộc chơi đùa thanh thoát và hiền minh.
Cái nhìn của Calvino, muốn ôm choàng thế giới. Theo đúng cách nói của ông, đó là “thế giới nhìn thế giới”.
Nguồn: Sài Gòn tiếp thị số ra ngày 24 tháng 8 năm 2009

Xem thêm về Italo Calvino:
http://www.tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=142


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=603


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=867F54B112B57A6E5BDAEA8B103B07F8?action=viewArtwork&artworkId=138

Italo Calvino (2)

ITALO CALVINO TRẢ LỜI PHỎNG VẤN

Phóng viên The Paris Review 

chuyển ngữ : Trần Tiễn Cao Đăng


NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông viết như thế nào? Ý tôi là, ông thực hiện hành vi viết như thế nào?


CALVINO
Tôi viết tay, sửa đi sửa lại nhiều lần. Phải nói là tôi gạch bỏ nhiều hơn viết. Tôi phải săn tìm từ ngữ khi nói, và khi viết tôi cũng gặp những khó khăn y như vậy. Rồi tôi viết thêm, chèn thêm vào, bằng chữ nhỏ li ti. Rồi đến một lúc tôi không đọc được chữ của chính mình nữa, nên tôi phải dùng kính lúp để luận ra mình đã viết gì. Tôi có hai kiểu viết khác nhau. Một kiểu viết chữ khá to - những chữ o và chữ a có một cái lỗ to ở tâm. Tôi viết kiểu này khi chép lại hoặc khi tôi khá chắc về những gì tôi viết. Kiểu viết kia của tôi tương ứng với một trạng thái tinh thần kém tự tin hơn và thường rất bé - chữ o hệt như dấu chấm. Đến cả tôi cũng khó luận ra nữa.Các trang viết của tôi đầy những dòng gạch bỏ và sửa chữa. Có một thời gian tôi viết tay một số bản . Bây giờ, sau bản thảo đầu tiên viết bằng tay và bị gạch tứ tung, tôi bắt đầu đánh máy, vừa đánh vừa luận chữ. Cuối cùng khi đọc lại bản đánh máy, tôi phát hiện ra một văn bản hoàn toàn khác và tôi thường sửa tiếp trên văn bản này. Rồi tôi lại chỉnh sửa nữa. Trên từng trang một trước hết tôi cố gắng chỉnh sửa bằng máy đánh chữ; rồi tôi lại sửa thêm một ít bằng tay. Thường trang viết của tôi chằng chịt đến mức tôi phải đánh máy lại lần thứ hai. Tôi ganh tị với những nhà văn có thể viết mà không cần sửa.

NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có thấy rằng tuổi trẻ hôm nay có những đặc điểm khác với tuổi trẻ của ông? Khi lớn tuổi hơn ông có nhận thấy ông có khuynh hướng không thích những gì người trẻ làm hơn hay không?

CALVINO
Nhiều lúc tôi phát điên với những người trẻ; tôi nghĩ về những bài lên lớp lê thê mà hẳn tôi không bao giờ giảng, trước hết vì tôi không thích dạy dỗ người khác, và thứ đến, chẳng ai thèm lắng nghe tôi. Nên chẳng còn gì nhiều nhặn cho tôi làm ngoài việc tiếp tục ngẫm nghĩ về những khó khăn trong giao tiếp với người trẻ. Có cái gì đó diễn ra giữa thế hệ của tôi và thế hệ của họ. Một sự tiếp diễn về trải nghiệm bị đứt đoạn; có lẽ chúng tôi thiếu những điểm tham chiếu chung. Nhưng nếu tôi nghĩ lại về tuổi trẻ của tôi, sự thật của vấn đề là tôi cũng chẳng chú tâm đến những phê bình, khiển trách, khuyến nghị. Nên hôm nay tôi không có thẩm quyền để nói.

NGƯỜI PHỎNG VẤN
Tiểu thuyết gia có phải là những kẻ nói dối? Nếu không, thì họ nói loại sự thật nào?

CALVINO
Tiểu thuyết gia nói về cái khoảnh sự thật ẩn giấu dưới đáy của mỗi lời nói dối. Với một nhà phân tích tâm lý nói dối hay nói thật không quan trọng mấy bởi vì những lời nói dối cũng thú vị, hùng hồn, và khơi lộ chẳng kém bất kỳ điều được cho là sự thật nào.Tôi cảm thấy nghi ngờ nhà văn nào xưng là kể toàn bộ sự thật về chính họ, về cuộc đời, hay về thế giới. Tôi thích sống cùng những sự thật tôi tìm thấy trong các nhà văn tự thể hiện mình như những kẻ nói dối mặt dày nhất. Mục đích của tôi khi viết Nếu một đêm đông có người lữ khách, một tiểu thuyết hoàn toàn dựa vào huyễn tưởng, là để tìm thấy theo cách này một sự thật mà tôi sẽ không thể tìm thấy theo cách nào khác.

NGƯỜI PHỎNG VẤN
Theo ông thì nhà văn viết những điều họ có thể viết hay là viết những điều nên viết thì hơn?

CALVINO
Nhà văn viết những điều họ có thể viết. Hành vi viết là một tính năng chỉ trở nên hiệu quả nếu nó cho phép người ta bộc lộ cái tôi nội tại. Một nhà văn cảm được nhiều dạng hạn chế khác nhau - hạn chế về văn chương ví dụ như số dòng trong một bài sonnet hay những quy tắc của bi kịch cổ điển. Những điều này là một phần của cấu trúc tác phẩm trong đó tính cách của nhà văn được tự do bộc lộ. Nhưng có một số hạn chế về tôn giáo, đạo đức, triết học, và nghĩa vụ chính trị. Những thứ này không thể được áp đặt trực tiếp lên tác phẩm mà phải được lọc qua cái tôi nội tại của nhà văn. Chỉ khi chúng là một phần tính cách sâu kín nhất của nhà văn thì chúng mới có thể tìm thấy chỗ trong tác phẩm mà không bóp nghẹt tác phẩm.

NGƯỜI PHỎNG VẤN
Ông có nghĩ là châu Âu bị văn hóa Mỹ và Anh lấn át?

CALVINO
Không. Tôi không chia sẻ những phản ứng mang tính sô vanh. Kiến thức về văn hóa nước ngoài là yếu tố sống còn của bất kỳ nền văn hóa nào; tôi tin chúng ta không bao giờ có thể có đủ kiến thức ấy. Một nền văn hóa phải biết cởi mình trước những ảnh hưởng ngoại nếu nó muốn gìn giữ cái mãnh lực sáng tạo của chính nó. Ở Ý thành tố văn hóa quan trọng nhất luôn là văn học Pháp. Cả văn học Mỹ nữa cũng chắc đã lưu lại dấu ấn trong tôi cả đời. Poe là một trong những hứng thú đầu tiên của tôi; ông dạy tôi tiểu thuyết là gì. Rồi sau tôi khám phá ra rằng Hawthorne đôi khi còn vĩ đại hơn Poe. Đôi khi thôi, không phải luôn luôn. Melville. Một tiểu thuyết hoàn hảo, Benito Cereno, thậm chí còn có giá trị hơn cả Moby-Dick. Dầu vậy, thoạt tiên tôi học nghề dưới bóng của Cesare Pavese, dịch giả tiếng Ý đầu tiên của Melville. Trong số những hình mẫu văn chương đầu tiên của tôi có những nhà văn thứ yếu cuối thế kỷ mười chín như Stephen Crane và Ambrose Bierce. Những năm tôi phát triển nghề văn, quãng những năm bốn mươi, là sự thống trị toàn diện của Hemingway, Faulkner, và Fitzgerald. Vào thời đó ở Ý chúng tôi như cuồng say với văn chương Mỹ. Cả những tác giả rất khiêm tốn như Saroyan, Caldwell và Cain cũng được coi là những hình mẫu về phong cách. Rồi còn đó Nabokov, người mà tôi trở thành fan và vẫn còn là fan của ông. Tôi phải thừa nhận rằng mối quan tâm của tôi đối với văn chương Mỹ bị lèo lái bởi khao khát theo dõi những gì xảy ra ở một xã hội mà trong chừng mực nào đó dự báo những gì sẽ xảy ra ở châu Âu một vài năm sau. Theo nghĩa này, những nhà văn như Saul Bellow, Mary McCarthy, Gore Vidal quan trọng vì mối liên hệ của họ với xã hội được biểu hiện trong việc cho ra đời những áng văn chất lượng. Cùng lúc đó tôi luôn tìm kiếm những giọng văn mới - như việc khám phá ra các tiểu thuyết của John Updike trong quãng giữa những năm năm mươi.

nguồn: lamvuthao.blogspot.com

Italo Calvino


"Nhẹ không phải là cái nhẹ của lông hồng mà là cái nhẹ của cánh chim" - Italo Calvino

Italo Calvino là nhà báo, nhà văn (sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết) người Italy sinh ngày 15-10-1923 tại Cuba - một trong những cái nôi của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Ông để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm có giá trị, đặc biệt là mảng truyện cổ viết lại.

Cha ông là giáo sư nông học của Đại học Turin. Được cha hướng theo ngành khoa học tự nhiên nhưng Calvino thích văn học hơn. Calvino rời Cuba khi đến tuổi thành niên. Ông quay về Italy và gia nhập lực lượng kháng chiến Italy trong suốt chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sau chiến tranh, ông sống ở Turin, theo học các khóa học về văn chương trong lúc đang làm việc cho tờ tạp chí cộng sản Thống nhất và Nhà xuất bản Einaudi.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông Đường đến tổ nhện in năm 1947, được lấy cảm hứng từ cuộc chiến chống phát xít. Hai năm sau, tập truyện ngắn Adam, một buổi chiều tà và những truyện khác (1949) của ông ra đời. Những năm 1950, Calvino thiên sang lối viết huyền ảo và ẩn dụ. Ông viết hàng loạt truyện ngắn nổi tiếng như Tử tước phân đôi (câu chuyện kể về một người bị chẻ ra làm đôi - một nửa tốt, một nửa xấu - bởi một phát đại bác), Nam tước trên cây (kể chuyện một nhà quý tộc quyết định leo lên sống ở trên cây, nhưng vẫn giữ lối sinh hoạt như những người đang sống ở dưới đất)...

Calvino từng sống ở Paris mười lăm năm, được mời đi thỉnh giảng tại nhiều trường đại học trên thế giới, trong đó có Harvard. Ông là người viết nhiều và được xem là một trong những khổng lồ văn chương Italy. Tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông là tập Truyện cổ tính Italy (1956). Đây là tập truyện tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tác truyện cổ mà thực chất là nhại lại truyện cổ trong truyện ngắn hậu hiện đại - với các bậc thầy như Kafka, Borges, Márquez...

Những tác phẩm huyền ảo của Calvino ở giai đoạn sau bao gồm Những thành phố vô hình  (1972), Nếu vào một tối mùa đông một du khách (1979)... Năm 1980, tập tiểu luận phê bình Năng lực văn chương của Calvino được xuất bản, càng khẳng định khả năng am hiểu văn chương của bậc thầy truyện ngắn này.


Calvino là một trong những nhà văn hậu hiện đại vĩ đại nhất của Italy nửa sau thế kỉ XX. Đặc biệt ta có thể xem ông là nhà văn linh hoạt nhất, không chỉ về những nội dung được ông đề cập hoặc tái hiện trong tác phẩm mà còn là cách thức linh hoạt khi kể chuyện, cấu trúc phức hợp khi dựng cốt truyện và phong cách đa diện mạo được ông phát triển trong nhiều áng văn chương.

Calvino khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình khi nước Italy tiêu điều sau chiến tranh thế giới thứ hai và gánh nặng tội lỗi phát xít luôn đè nặng trên lương tri những người tiến bộ. Ông được xếp vào hàng ngũ những nhà "hiện thực mới". Trào lưu này thuộc về các nhà văn trẻ xuất hiện ở Italy sau chiến tranh. Họ tìm kiếm một lối trần thuật mới, xác định phong cách của dân tộc, vượt thoát sự ảnh hưởng của tiểu thuyết Hoa Kì. Nỗ lực lớn lao của chủ nghĩa hiện thực mới ở Italy là cố vượt qua bóng ma quái ác của hai mươi năm hiểm họa phát xít ngã bóng lên quê hương.

Cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, Đường đến tổ nhện, khảo sát phong trào nghĩa quân không phải bằng các thuật ngữ của người viết tiểu sử các thánh mà bằng cái nhìn chất phác của Pin, một kẻ cầu bơ cầu bất. Kĩ thuật này cho phép Calvino trộn lẫn những thông điệp nghiêm túc với các yếu tố mỉa mai. Không ngần ngại khi pha trộn các yếu tố hoang đường vay mượn từ truyện cổ tích vào chủ nghĩa hiện thực, Calvino tạo nên một diện mạo mới cho hình thức tự sự của mình.

Đầu những năm 1950, tan vỡ ảo tưởng khi nỗ lực bày tỏ các thông điệp xã hội nghiêm túc trong những câu chuyện mang tính anh hùng của thời kì kháng chiến; Calvino quay sang viết loại truyện mà ông thích đọc, Tổ tiên của chúng ta là tác phẩm bộ ba, bao gồm ba phần riêng lẻ, được dựng theo cấu trúc của truyện cổ tích, truyện phiêu lưu và truyện hiệp sĩ lãng mạn.

Hiệp sĩ không tồn tại kể chuyện một chàng hiệp sĩ đang tìm kiếm sự xác định bản thể giữa các thái cực được đề xuất bởi Agilulf - một con người hoàn hảo nhưng không có hình hài, nơi cư ngụ của ông ta là bộ áo giáp, và cực kia là Gurdulu - một kẻ đầy đủ hình hài nhưng không có trí tuệ. Cuốn tiểu thuyết cũng được ghi nhận ở góc độ trần thuật. Hầu hết các nhân vật đều hiện diện qua dòng suy tưởng của Suor Teodora, ngwoif kể chuyện và cũng là nhà nghiên cứu những giới hạn của chủ nghĩa hiện thực và những vấn đề thuộc về tác giả khác. Sự thay đổi diện mạo cuối cùng, trong đó nữ tu sĩ Teodora hiện diện là nữ chiến binh Bradamante, là hiện thân từ những nỗi lo âu của chính Calvino trong giai đoạn này về vai trò của ông như một trí thức suy ngẫm, như là sự đối nghịch với tư cách một đảng viên chính trị hiếu động.

Sáng tác của Calvino kể từ đó đến 1963 chủ yếu là truyện ngắn và truyện vừa. Tất cả đều thấm đẫm yếu tố hoang đường, siêu nhiên, huyền ảo. Năm 1963 là năm đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời sáng tác của Calvino. Từ tiểu thuyết dài hơi ông chuyển sang sáng tác các truyện ngắn hơn, điển hình là tiểu thuyết dưới 100 trang Người quan sát. Nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết này phản đối việc tiểu thuyết kể chuyện về con người mà tập trung vào các vấn đề thuộc về khoa học.


Trong Những thành phố vô hình (1972), nhân vật Marco Polo miêu tả cho vị Hoàng đế vĩ đại trong 55 khổ thơ văn xuôi về những thành phố trong vương quốc của ông ta. Tác phẩm này được dựa nhiều vào sách du kí của nhà thám hiểm và du lịch nổi tiếng thành Viên Polo. Nó chứng thực mối quan tâm của Calvino trong việc viết lại các văn bản cổ. Niềm đam mê này cũng được thấy rõ trong Nếu vào một tối mùa đông một du khách... Tác phẩm được xem là một dạng siêu tiểu thuyết (Hypernovel), được cấu trúc và viết lại nội dung từ kiệt tác Nghìn lẻ một đêm. Với cái khung gồm mười hai chương, trong đó "bạn" - độc giả (một đối tượng nam giới) và một bạn đọc nữa giới đang cố đọc câu chuyện Nếu vào một tối mùa đông của Calvino. Cách kể này cho phép Calvino phô diễn trình độ điêu luyện bậc thầy trong việc tái sinh những phong cách hoàn toàn khác lạ với lối văn hư cấu đương đại và cùng lúc đó loại bỏ tính sự kiện trong câu chuyện khung để chống lại việc đuổi theo các chi tiết hấp dẫn độc giả. Toàn bộ cuốn sách được dựng trên nhiệt huyết kể chuyện cũng như năng khiếu hài hước và mối quan tâm của Calvino với lí luận văn học đương đại.


Tác phẩm cuối cùng được in vào lúc sinh thời, Ngài Palomar trình diễn một lối kể đặc biệt khác lạ. Dựa trên những chiêm ngẫm bất tận của ngài Palomar, một ông lão sống vào thập kỉ 1980 tại Italy, tác phẩm được chia làm 27 phần, mỗi phần lại được chia ra thành ba phần nhỏ. Nhân vật chính được lấy tên theo tên của chiếc kính thiên văn khổng lồ đặt tại California. Điều này đã nối cảm hứng khoa học về việc quan sát và khám phá vũ trụ với cảm hứng nghệ thuật của Calvino lại với nhau.


Tác phẩm chưa hoàn thành và được xuất bản sau khi Calvino qua đời có nhan đề Dưới Jaguar Sun cũng cho thấy mối quan tâm đầy hứng khởi của nhà văn về lối tự sự ghép mảnh. Calvino dự kiến tác phẩm bao gồm năm câu chuyện về năm giác quan, nhưng ông chỉ kịp hoàn thành chuyện của ba giác quan: khứu giác,vị giác và thính giác.


Dù được chú ý với tư cách là nhà viết lời nhạc kịch và nhà phê bình, lí luận văn học, nhưng vị trí bậc thầy văn xuôi hiện thực huyền ảo luôn được dành cho Calvino. Là người có cái nhìn  bao quát hiện thực rộng lớn, người am hiểu sâu sắc các giá trị nghệ thuật truyền thống và hơn hết là người luôn đề xuất những cách tân táo bạo trong sự nghiệp văn chương.  Calvino xứng đáng là bậc thầy của nghệ thuật tái sinh thể loại, là triết gia cừ khôi của kỉ nguyên hậu hiện đại trong việc năm bắt và tái hiện thực trạng tồn tại của con người.


Calvino từng phát biểu về mối quan tâm của ông với những câu chuyện cổ: "Nếu trong suốt một giai đoạn nào đó trong văn nghiệp của mình tôi bị cuốn hút bởi truyện kể dân gian và truyện cổ tích, thì đấy chẳng phải là kết quả của lòng trung thành đối với truyền thống văn hóa dân tộc (nên hiểu rằng nguồn gốc của tôi bén rễ trong thời hiện đại hoàn toàn và của Italy nhiều quốc tịch), cũng không phải là kết quả từ việc luyến tiếc quá khứ về những điều tôi đã đọc khi còn thơ ấu (trong gia đình tôi, trẻ con được đọc duy nhất loại sách giáo dục, đặc biệt là những cuốn có cơ sở khoa học nào đó). Đúng ra là bởi vì mối yêu thích của tôi đến văn phong và cấu trúc, đến sự cô đọng, nhịp điệu và logic chặt chẽ mà nhờ chúng, câu chuyện được kể nên. Trong quá trình kể lại những câu chuyện cổ Italy như được ghi lại bởi các học giả ở thế kỉ trước, tôi thấy vô cùng thú vị vì văn bản gốc cực kì súc tích. Tới mức tôi cố chuyển tải, thán phục độ súc tích và cùng lúc đó vay mượn sức mạnh trần thuật hẳn là vĩ đại nhất kia".


CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO & GABRIEL GARCIA MÁRQUEZ - PGS.TS Lê Huy Bắc - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam